DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                                         Nguyễn Văn Phương

Tiến sĩ Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Bộ Quốc phòng

Nửa thế kỷ trôi qua, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Nội dung bản Di chúc không chỉ là những lời tâm huyết, sâu lắng, tràn đầy yêu thương và trách nhiệm của Người đối với đất nước, dân tộc mà còn chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với con đường và công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam ngày nay.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Di sản vô giá, ngọn đuốc cho cách mạng Việt Nam

Năm mươi năm trước, sau khi đã “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, trước lúc đi xa, để “Đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta bản Di chúc thiêng liêng, đó là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Những lời căn dặn cuối cùng của Người là những tình cảm và niềm tin của Người đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

Bản Di chúc là sự tổng kết sâu sắc suốt chặng đường đấu tranh để đi đến thắng lợi vô cùng vẻ vang của cách mạng Việt Nam; đồng thời, vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước. Di chúc ấy là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, nguồn sức mạnh để động viên, cổ vũ nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, thực hiện mục tiêu cao cả: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Người tìm ra, suốt đời phấn đấu, hy sinh để thực hiện mục tiêu đã được xác định.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, kết hợp và phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, viết nên  bản hùng ca vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, Di chúc thiêng liêng của Người vẫn là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối cho công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã và đang tiến hành là cuộc đổi mới được thực hiện dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới được bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chỉ là sự tiếp tục tất yếu của toàn bộ sự nghiệp đổi mới lâu dài mà Đảng, nhân dân ta tiến hành dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hoài bão và mong muốn tột bậc của Người từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến phút cuối cùng trước khi về cõi vĩnh hằng là: Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người căn dặn: Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Mục tiêu của cách mạng được Người khái quát hết sức rõ ràng và bình dị mà ai cũng có thể hiểu được và phấn đấu để thực hiện. Nhưng để xác định được những điều đó, Người phải rời xa Tổ quốc thân yêu, bôn ba khắp năm châu, bốn biển suốt 30 năm. Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, giữa đêm dài nô lệ, dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, đã có nhiều sĩ phu, văn thân, chí sĩ yêu nước xả thân vì dân, vì nước và ra đi để tìm đường cứu dân, cứu nước. Song duy nhất chỉ có Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó ánh sáng soi đường cứu dân, cứu nước… như Người đã khẳng định sau khi được đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Rõ hơn, muốn giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Kể từ đó, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu và sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

Không có gì quý hơn độc lập, tự do - Chân lý của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới

Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc. Qua hàng ngàn năm, các thế hệ người Việt Nam đã nối tiếp nhau chiến đấu cho nền độc lập, tự do của nhau chiến đấu cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Có thể nói, chưa có một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, trong đó có các cuộc chiến tranh phải chống lại các thế lực xâm lược hung hãn nhất, hùng mạnh nhất của thời đại để giành độc lập, tự do. Chính vì thế, hơn ai hết nhân dân Việt Nam là người thấu hiểu giá trị của độc lập, tự do, hòa bình. Từ thực tiễn chống ngoại xâm, ông cha ta đã đúc kết được nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu. Trí tuệ đánh giặc giữ nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam. Hồ Chí Minh đã mang theo trí tuệ đó trong hành trình tìm đường cứu nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là sự kết hợp tinh hoa của dân tộc với trí tuệ của thời đại, là học thuyết Mác - Lênin và thực tiễn của cả cuộc đời đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng cao thượng, phong phú và sáng tạo của Người cho độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Vì vậy, chân lý Không có gì quý hơn độc lập, tự do do Người tổng kết không chỉ là chân lý cho dân tộc Việt Nam mà còn là chân lý cho tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc trong thời đại ngày nay. Chân lý đó được các dân tộc trên thế giới thừa nhận như một lẽ tự nhiên, không ai có thể bác bỏ. Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là bước phát triển mới của học thuyết Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có sự gắn bó thống nhất: Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự gắn bó này vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột. Mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là vì con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân và xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công giữa người với người. Bởi vì, nếu xóa bỏ áp bức dân tộc mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng. Theo Người, độc lập, thống nhất của Tổ quốc phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người nhiều lần nhắc nhở: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, Người mong muốn: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Đó không chỉ là lời động viên, khích lệ, mà còn là niềm tin và mong ước của Người trước lúc đi xa. Người cũng dự liệu rằng, chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chỉ có phát triển kinh tế, văn hóa một cách mạnh mẽ mới có thể làm cho dân giàu, nước mạnh. Đấu tranh giành cho được độc lập, tự do đã khó, nhưng làm cho những giá trị của độc lập, tự do có ý nghĩa thực sự, biến những giá trị tinh thần - chính trị thành những giá trị vật chất cụ thể lại còn khó khăn hơn nhiều. Vì vậy, giành được độc lập rồi phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội là sự bảo đảm vững chắc nhất cho nền độc lập dân tộc.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Người đi vào cõi vĩnh hằng nhưng tên tuổi, sự nghiệp vĩ đại cùng với tấm lòng nhân ái của Người vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử mới của Đảng ta. Suy ngẫm và cảm nhận nhiều điều sâu sắc từ bản Di chúc thiêng liêng của Người, mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là mỗi cán bộ, đảng viên luôn nguyện ra sức phấn đấu, thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đó là phương cách tốt nhất để thể hiện lòng biết ơn và thực hiện lời hứa thiêng liêng với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

CHỐNG “TƯ DUY NHIỆM KỲ” TỪ BÀI HỌC ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                              Lê Thanh Hà

PGS.TS, Viện Triết học, Học viên chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian, tâm huyết cho việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Để làm tốt điều đó, theo Người, cần quan tâm, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, bởi chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân sinh ra hàng trăm thứ bệnh, mà một trong số đó hiện nay là “tư duy nhiệm kỳ”. Muốn loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” cần quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng; do đó, nghiên cứu, quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân sẽ rút ra bài học có giá trị đối với việc đấu tranh chống ‘tư duy nhiệm kỳ” ở Việt Nam hiện nay.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân có mặt mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, bên trong mỗi con người và chỉ chờ thời cơ để bộc lộ. Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đã căn dặn toàn Đảng phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân; bởi theo Người: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ để ra tất cả mọi tính hư, nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô,… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Cụ thể hơn, “chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác.

Ngày nay, chủ nghĩa cá nhân đang là bệnh “mẹ” của “tư duy nhiệm kỳ”. “Tư duy nhiệm kỳ” là một khái niệm mới kể cả nội hàm và ngoại diên. Có thể hiểu, “tư duy nhiệm kỳ” là tầm nhìn ngắn hạn, là cách làm việc siêu hình, thiển cận của một số cán bộ, đảng viên giới hạn trong một nhiệm kỳ mình tại vị. Mục tiêu của họ là chạy theo lợi ích cục bộ, lo thu vén cho lợi ích cá nhân hơn là lo nghĩ cho lợi ích của đất nước, lợi ích tập thể. Trong nhiệm kỳ nắm giữ cương vị lãnh đạo, họ không muốn nghĩ, không muống trăn trở để tìm tòi hướng đi mới, cách làm hay đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước mà họ tìm mọi cách vơ vét lợi ích cho bản thân, “giữ ghế” an toàn để đến hết nhiệm kỳ để về hưu hoặc được luân chuyển đi nơi khác có vị trí cao hơn. Về cơ bản, chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” có cùng bản chất và được biểu hiện ở các mặt sau:

Một là, chủ nghĩa cá nhân thích hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn của cá nhân, của nhóm lợi ích. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích của cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. Biểu hiện này giống với “tư duy nhiệm kỳ”, vì những người mắc bệnh “tư duy nhiệm kỳ” cũng thường chạy theo lợi ích cục bộ nhằm đạt được mục tiêu, lợi ích ngắn hạn, không quan tâm đến mục tiêu dài hạn, mục tiêu chiến lược, hiệu quả lâu dài mà chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân, hưởng thụ thành quả trước mắt hơn là lo nghĩ cho lợi ích của đất nước. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đó là bệnh cận thị, “không trông xa, thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú việc tỉ mỉ. Thí dụ việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước vo gạo trong các bộ đội. Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn”. Những người có tư tưởng chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” này chủ yếu làm những việc lặt vặt, trước mắt, sắp xếp công việc một cách lộn xộn, thiếu tính lô-gic khoa học. Người cán bộ, lãnh đạo có “tư duy nhiệm kỳ” sẽ tìm cách sử dụng quyền lực, lợi dụng uy tín, ảnh hưởng, chức vụ của mình trong nhiệm kỳ công tác để tạo ảnh hưởng hoặc ra những quyết định nhằm phục vụ lợi ích cá nhân. Mục đích của những người có “tư duy nhiệm kỳ” là “vụ lợi cá nhân” để hưởng thụ. “Vụ lợi cá nhân” trong trường hợp này cần được hiểu theo nghĩa rộng là nhằm phục vụ cho lợi ích bản thân người cán bộ lãnh đạo, cho gia đình và thậm chí là cho “phe”, “cánh” của người đó.

Sự kết hợp của “tư duy nhiệm kỳ” và chủ nghĩa cá nhân đã tạo ra những biểu hiện tha hóa trong sử dụng quyền lực, phá vỡ trật tự, kỷ cương, làm băng hoại giá trị truyền thống trong các quan hệ xã hội. Hành vị này tạo ra hiện tượng chạy cơ chế, chạy chính sách, chạy quy hoạch, chạy dự án, chạy vốn, chạy chức, chạy quyền, chạy luân chuyển, chạy thành tích và cả chạy tội, chạy án…; làm sai lệch các tín hiệu thị trường, cơ cấu và định hướng phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực quốc gia; làm tăng nợ công và sự bất ổn vĩ mô; làm mất tính nghiêm minh và chuẩn mực của pháp luật; làm giảm sút hiệu quả đầu tư, làm mất cơ hội và sức cạnh tranh trong nền kinh tế.

Hai là, chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh quan liêu, kiêu ngạo, hình thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức”. Chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh kiêu ngạo, tự cao, tự đại, hay lên mặt, ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình, thích sai khiến người khác. Những căn bệnh đó cũng là biểu hiện cụ thể của ‘tư duy nhiệm kỳ” với các đặc điểm chủ yếu, như động cơ hám danh, hám quyền lực, hám lợi, thích khoe khoang. “Tư duy nhiệm kỳ”, với cách tư duy ngắn hạn, dẫn đến thái độ làm việc tắc trách, không đi sâu, đi sát công việc, và khi đã yên vị trên “ghế” rồi thì dễ dẫn đến quan liêu, kiêu ngạo và bệnh hình thức. Người có biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” thường đề ra mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ cao hơn nhiệm kỳ trước, không sát với yêu cầu thực tiễn, từ đó tìm mọi cách để đạt được các ý đồ đã đề ra có lợi cho bản thân, cho nhóm lợi ích của mình; hoặc thực hiện những chỉ tiêu, mục tiêu, dự án, chương trình nhanh thu lợi nhất, có kết quả ngay, để lại dấu ấn trong nhiệm kỳ mình đương chức, và bỏ bê các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, dự án khó thực hiện, thực hiện không có lợi, không có hiệu quả ngay, không để lại dấu ấn, viện dẫn lý do ngụy biện để lại cho nhiệm kỳ sau, cho người kế nhiệm. Bệnh quan liêu, hình thức của “tư duy nhiệm kỳ” thể hiện rõ thông qua các công trình hoành tráng, như tượng đài, đình, chùa, nhà văn hóa, sân vận động, cầu cống, đường xá,…; tổ chức các lễ kỷ niệm, lễ hội thật lớn để ghi dấu ấn. Hay bệnh hình thức, thành tích trong chính trị thì biểu hiện ở việc chạy các danh hiệu, như chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động,… trong nhiệm kỳ mình đương chức để phô trương, khuếch đại thành tích tập thể, cá nhân, “đánh bóng tên tuổi”. Hậu quả là lãnh đạo thì trong “men say” của niềm tự hào, kiêu hãnh mà không dựa trên năng lực thực tế của địa phương. Đây cũng là động cơ của những kẻ cá nhân chủ nghĩa trước đây và bây giờ là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”.

Ba là, chủ nghĩa cá nhân ngại khó khăn, gian khổ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, cục bộ, bè phái. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…”. Mang trong mình chủ nghĩa cá nhân, những người này ngại khó khăn, gian khổ, có lối sống ích kỷ, thực dụng, thường lợi dụng những sơ hở trong chính sách và trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; đồng thời khi ngon ngọt, khi công kích để, một mặt, cấu kết, bè phái; mặt khác, chống phá, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ thấp uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân, không thăng tiến được, không kiếm được nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn, buông xuôi. Do đó, khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch, các phần tử này dễ quay ra chống lại Đảng và chế độ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đây cũng là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”, vì cùng có chung một đặc điểm nguy hiểm là thoái thác trách nhiệm, lạm dụng các kẽ hở và ẩn mình trong vỏ bọc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhưng thực chất là nhân danh cái tốt đẹp, lợi ích tập thể, cộng đồng để thu vén cho lợi ích cho cá nhân, gia đình, hoặc “nhóm cánh hẩu” của mình. Sự cấu kết giữa các cá nhân chủ nghĩa với các nhà hoạch định chính sách theo “tư duy nhiệm kỳ” dễ dẫn đến tham nhũng, hoặc trục lợi, thu lợi nhanh nhất cho cá nhân, cho một nhóm người và hệ lụy của nó là phá hỏng thành quả của xã hội, để lại hậu quả cho các nhiệm kỳ sau phải gánh chịu và khắc phục.

Người có “tư duy nhiệm kỳ” thường ý chí hóa cá nhân vào chủ trương lãnh đạo của cấp ủy, nhằm né tránh nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý ở “bình minh nhiệm kỳ” thì hứa hẹn, hô hào, nhưng đến nửa nhiệm kỳ thì nhạt dần và đến cuối nhiệm kỳ thì tỏ ra đối phó, trì trệ, cầm chừng. Với “tư duy nhiệm kỳ”, người kế nhiệm thay vì tiếp tục thực hiện, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm kế hoạch “dài hơi” của người tiền nhiệm thì lại đặt ra kế hoạch mới để rồi cũng dang dở khi về hưu, hoặc chuyển công tác. Đặc biệt, ở “hoàng hôn nhiệm kỳ”, họ thường tranh thủ thực hiện “chuyến tàu vét” bằng cách ký kết các dự án kinh tế kém hiệu quả, đề bạt, bổ nhiệm hàng loạt cán bộ, trong đó có cả những cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất… Sự thiếu khách quan và những tiêu cực của nó đã hình thành nên một dàn cán bộ lãnh đạo khóa sau cũng rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “tư duy nhiệm kỳ”; làm thui chột động lực học tập, rèn luyện, phấn đấu của những cán bộ tốt; tạo nên dư luận xấu trong nội bộ và đối với cả những cán bộ được đề bạt.

Với những biểu hiện nêu trên, chúng ta thấy chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Từ chủ nghĩa cá nhân đã sinh ra “tư duy nhiệm kỳ” - tư duy ngắn hạn, chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt. Đồng thời, “tư duy nhiệm kỳ” luôn gắn liền với lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt mà không thấy lợi ích lâu dài của đất nước, của nhân dân. Cả hai căn bệnh này đều là “giặc nội xâm”, chúng phá hoại đất nước từ bên trong và nguy hại hơn bất kỳ kẻ địch nào khác. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Còn hiện nay, tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết Trung ương 3 khóa XI (ngày 10-10-2011), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến “tư duy nhiệm kỳ” của cán bộ, đảng viên ở nước ta như một căn bệnh, một tệ nạn trong xã hội cần phải chống. Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta cũng khẳng định, cùng với “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ” chính là một trong những rào cản lớn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Vì vậy, Đảng ta chủ trương “Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”.

Nguyên nhân chủ yếu của “tư duy nhiệm kỳ” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân họ sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Vì vậy, loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” cần phải gắn chặt với chống chủ nghĩa cá nhân và phải coi đó là nhiệm vụ thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cuộc đấu tranh loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ, bởi lẽ chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” là những kẻ thù không lộ nguyên hình mà ẩn nấp trong tư tưởng, suy nghĩ của mỗi cá nhân và hành vi của mỗi cá nhân đó. Do đó, đấu tranh với ảnh hưởng tiêu cực của “tư duy nhiệm kỳ” là vấn đề mang tính chiến lược, cấp bách, song không hề dễ dàng, cần đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất, trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền các cấp, huy động sự ủng hộ và tham gia của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Trích đăng từ Tạp chí Cộng sản của Đảng phát hành tháng 8 năm 2019.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Biên tập viên

Nguyễn Đức Cường - 0937369900 - Hỗ trợ kỹ thuật - Bảo trì website

Website: www.tanbinhrc.com

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)