Thực hiện chỉ đạo của Trung tâm huấn Sơ cấp cứu thành phố Hồ Chí Minh và thực hiện Kế hoạch hoạt động Hội và phong trào Chữ thập đỏ năm 2019 của Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình và nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ Hội Chữ thập đỏ cơ sở nắm vững hơn về các phương pháp sơ cấp cứu mới, xây dựng lực lượng đội ngũ cán bộ Hội Chữ thập đỏ cơ sở là đội quân tiên phong trong lĩnh vực sơ cấp cứu, phòng chống thiên tai thảm họa; Đồng thời thông qua chương trình đào tạo lựa chọn được những học viên xuất sắc để bổ sung vào đội ngũ hướng dẫn viên sơ cấp cứu của quận.

IMG6351
IMG6349
IMG6352
IMG6358
IMG6360
IMG6364
IMG6367

     Từ ngày 12-13/9/2019, tại trụ sở cơ quan số 01 Đồng Đen, Hội Chữ thập đỏ quận đã tổ chức khóa huấn luyện phương pháp sơ cấp cứu mới cho đội ngũ cán bộ Hội Chữ thập đỏ cơ sở.

     Tổng số có 60 học viên tham gia khóa đào tạo, ngoài số học viên cán bộ chuyên trách Chữ thập đỏ khối phường và được chọn lọc trong Đội thanh niên xung kích quận và 15 phường, khóa học còn có sự tham gia của một số cán bộ chi hội khu phố trênh địa bàn quận.

      Do phần lớn các học viên đều đã được tập huấn nhiều lần về các kỹ năng sơ cứ ban đầu nên trong khóa học này, Đội Huấn luyện Sơ cấp cứu quận Tân Bình chủ yếu tập trung chú trọng hướng dẫn học viên về các phường pháp mới, kỹ năng thao giảng cùng một số bài học cơ bản như: Phương pháp cầm máu; Phương pháp cố định xương gãy; Phương pháp hồi sức tim phổi; Phương pháp tải thương và một số bệnh thông thường.

     Sau khi kết thúc khóa huấn luyện vào ngày 13/9/2019, Ban Tổ chức sẽ tiến hành kiểm tra kết quả học tập của học viên với hình thức: kiểm tra lý thuyết, thực hiện các kỹ năng sơ cấp cứu và thực hành thao giảng trước đám đông để căn cứ kết quả học tập, nếu đạt yêu cầu học viên sẽ được cấp nhận giấy chứng nhận là hướng dẫn viên sơ cấp cứu cơ bản do Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình cấp.

                                                            CTV – Đỗ Văn Ánh

   Nhằm triển nâng cao kiến thức về hoạt động phong trào Chữ Thập đỏ cho đội ngũ cán bộ Hội Chữ thập đỏ cơ sở và các chi hội khu phố trên địa bàn quận. Qua đó từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ Hội cơ sở vững về chuyên môn, giỏi nghiệp vụ và có đủ năng lực tổ chức các phong trào Chữ thập đỏ tại địa phương.

1
3

   Vào ngày 30/8/2019, Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ công tác Hội năm 2019 (mở đầu cho chương trình tập huấn nhiều buổi cho cán bộ, hội viên). Đối tượng tham gia tập huấn đợt này là Thường trực Hội Chữ thập đỏ 15 phường, Hội Chữ thập đỏ đặc thù và chi hội trưởng Chữ thập đỏ khu phố trên địa bàn quận.

   Chương trình tập huấn năm nay, Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình tập trung trang bị cho Thường trực Hội Chữ thập đỏ cơ sở về Luật hoạt động Chữ thập đỏ Việt Nam, Luật nhân đạo quốc tế, Kỹ năng phòng chống ứng phó thảm họa, Thông tư 30/2014/TT-BYT về khám chữa bệnh nhân đạo. Báo cáo viên là Ông Trần Văn Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ thành phố Hồ Chí Minh, Bà Phan Thị Ngọc Khương – Trưởng Ban Chăm sóc sức khỏe Thành Hội và Cán bộ Quận Hội.

   Ngoài ra, xen kẽ trong chương trình huấn luyện, các học viên còn được cán bộ giảng dạy là những lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ có kinh nghiệm chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác Chữ thập đỏ. Đồng thời các học viên cũng có dịp trao đổi với lãnh đạo Thành Hội về những khó khăn vướng mắc trong việc triển khai thực hiện một số chương trình hoạt động tại cơ sở.

   Kết thúc khóa tập huấn kỳ này, hầu hết các cán bộ Hội tại cơ sở đều nắm vững hơn những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ để trở về địa phương triển khai thực hiện.

                                                      CTV – ĐỖ VĂN ÁNH

 

image003
image002
image005
image007

I. KẾ SÁCH CỦA TRUNG QUỐC:

1. Kế “Viễn giao cận công”: Có nghĩa là ở xa thì giao thiệp, gần thì dùng vũ lực; bản chất của kế này vốn có từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc, với lý luận rằng, đối với nước xa thì nếu gây chiến tranh, với điều kiện ngăn cách về địa lý, không hợp với thủy thổ, quân lương khó vận chuyển, binh lính chết vì ốm đau và cho dù có thuận lợi chiếm được đất nước ở xa đó thì cũng chẳng thể chiếm được đất đai, lãnh thổ, không thể sát nhập vào đất của họ được. Ngược lại, đối với các nước ở gần là phải “cận công” vì có đủ mọi điều kiện thuận lợi, phù hợp với triết lý binh gia, nếu chiếm được, lấn được thì có thể nhập vào lãnh thổ của mình theo kiểu tằm ăn lá dâu hòng chiếm dần dần đất đai, biển đảo của nước khác.

Việt Nam nằm sát với Trung Quốc, nhiều đời nay kiên cường không khuất phục, không chấp nhận bị đô hộ nên luôn là đối tượng Trung Quốc muốn “cận công”. Tuy nhiên, cha ông ta đã vô cùng tinh anh, cương nhu phải phép, dụng binh tùy cơ, hợp với lẽ trời và lòng người nên dù đứng trước hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc nhưng cha ông chúng ta vẫn giữ được giang sơn muôn dặm, để lại cho con cháu ngày nay.

2. Kế “Vô trung sinh hữu”: Có nghĩa là không có mà làm thành có; mục đích là đánh lạc hướng, làm rối beng sự việc lên, tung tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào đó mà thủ lợi. Phía Trung Quốc một mặt mang tàu Hải Dương và các tàu hộ tống xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; mặt khác trên các diễn đàn lại bóp méo sự thật một cách trắng trợn, vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam đem một lượng lớn tàu ra “quấy nhiễu”; rằng Việt Nam muốn làm lớn chuyện, gây căng thẳng tại khu vực; Việt Nam vi phạm chủ quyền Trung Quốc… Từ chỗ đó, họ muốn biến khu vực thuộc chủ quyền của nước khác thành vùng tranh chấp với Trung Quốc. Mà vụ Bãi cạn Scarborough của Philippines và Bãi Tư chính của Việt Nam là một trong những ví dụ điển hình nhất cho kế sách này.

Hai kế này rất thâm hiểm, với bộ máy tuyên truyền khổng lồ và bày mưu bài bản, phía Trung Quốc tuyên truyền về cái gọi là “chủ quyền Nam Sa” hoàn toàn phi pháp và trái với luật pháp quốc tế; mọi tài liệu, chứng cứ và bản đồ Trung Quốc qua các triều đại đều chỉ chứng minh một điều rõ nét, không thể chối cãi đó là, cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Chính Trung Quốc thừa biết sự đuối lý của mình nên họ luôn lẩn tránh việc đưa các vấn đề biển đảo tại Biển Đông ra trước dư luận và công pháp quốc tế. Vì vậy, đại bộ phận cộng đồng quốc tế có đủ tỉnh táo và sáng suốt để biết rõ chân lý, lẽ phải thuộc về Việt Nam. Chính phủ và nhân dân các nước trên thế ủng hộ chính nghĩa Việt Nam; ủng hộ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trên tinh thần Luật pháp quốc tế mà cụ thể là Công ước Liên Hiệp quốc về luật Biển 1982.

II. KẾ SÁCH ỨNG PHÓ VỚI TRUNG QUỐC CỦA CHÚNG TA:

1. Việt Nam đặc biệt coi trọng và luôn làm hết sức mình đóng góp vào việc gìn giữ và tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp với Trung Quốc. Việt Nam luôn chân thành mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

2. Đối với việc Trung Quốc mang tàu Hải Dương 8 vào vùng biển của Việt Nam, Việt Nam cực lực phản đối các hành động xâm phạm này và kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của mình phù hợp với luật pháp quốc tế". Yêu cầu Trung Quốc rút hết tàu thuyền ra khỏi vùng biển chủ quyền của chúng ta.

3. Để có thể khống chế “Liên hoàn kế” của Trung Quốc, với thực lực hiện nay, như nhiều người đã bình luận, thượng sách là chúng ta phải sử dụng chiến thuật “Dĩ tĩnh chế động” - nghĩa là lấy cái tĩnh khống chế cái động, lấy nhu để chế cương. Bình tĩnh quan sát đợi cho đối phương hành động và lộ ra yếu điểm thì có thể chế ngự được. Tĩnh cũng có nghĩa là bình tĩnh thì mới tỉnh táo, không bị mê hoặc tâm trí bởi sự náo động, không bị kích động để mắc bẫy Trung Quốc.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta cũng từng dạy, phải luôn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, thay đổi khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó, đó là bản thể, là bất biến; cái bất biến là bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; cái vạn biến là tùy cơ ứng biến, tùy cơ hành động sao cho ích nước lợi dân thì làm.

5. Kế Hợp tung - Liên hoành: kêu gọi các nước trong khu vực và trên thế giới ủng hộ chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam theo tinh thần Công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển 1982; lên án hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc; buộc Trung Quốc phải tôn trọng luật pháp quốc tế.

Chúng ta cũng biết, người Trung Quốc đã sáng tạo ra môn cờ tướng, một môn đỉnh cao trí tuệ về tính toán chiến lược và chiến thuật. Nhưng xem ra, khi vội vã đưa “con tốt Hải Dương 8” qua sông, phía Trung Quốc đã phạm yếu lĩnh cơ bản trong đánh cờ, đi sai một nước họ sẽ thua cả ván; nước cờ của Trung Quốc chỉ làm mất uy tín của chính họ trên trường quốc tế, các nước lân bang đề phòng, giảm sút lòng tin vào Trung Quốc. Rõ ràng là việc nhấn tốt “Hải Dương 8” hoàn toàn sai lầm và tất yếu sẽ hỏng hết cả ván cờ. Hãy tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề này.

 

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 27/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Tính tới thời điểm này thì Việt Nam đã đi một bước cả về chiến lược lẫn chiến thuật trong việc khẳng định chủ quyền biển đảo trước tham vọng xâm chiếm của Trung Quốc.

image002
image003
image004
image006
image009
image008

Về chiến lược, có vẻ như nước ta đã tính toán cách đây 20 năm. Mặc dù khi đó đất nước còn nghèo nhưng chúng ta đã đóng cột mốc chủ quyền trên khu vực bãi Tư Chính bằng các nhà giàn DK1. Nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Bộ Tư lệnh Công binh Nguyễn Quý cũng là Trưởng Ban xây dựng DK1 đã từng nhắc đến Tư lệnh Hải Quân đô đốc Giáp Văn Cương, với tầm nhìn chiến lược, ông ấy đã cử Lữ đoàn 171 hải quân đi khảo sát vùng biển Đông Nam của Tổ quốc, thì phát hiện ra có 6 bãi đá ngầm (Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường và Ba Kè) và một bãi bùn ở phía Cà Mau. Ngay sau đó, Đô đốc Giáp Văn Cương đã báo cáo Bộ Quốc phòng và Bộ Chính trị. Và bây giờ chúng ta đã có DK1/20 vững chắc, hiện đại trên các bãi đá ngầm để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển hết sức rộng lớn và giàu có này.

Đại tá Nguyễn Quý cũng nhấn mạnh rằng: “Vị trí Tư Chính rất quan trọng, nếu đi từ đất liền ra thì sẽ đi ra vùng biển khai thác dầu khí của chúng ta là Thanh Long, Bạch Hổ, Đại Hùng và một vài cái nữa thì đến Tư Chính. Cho nên Tư Chính như cái hàng rào, là tiền đồn của vùng dầu khí của ta. Nếu kẻ ngoại bang đặt chân được vào Tư Chính thì nó khống chế toàn bộ khu dầu của chúng ta và toàn bộ bãi ngầm DK1”. Rõ ràng đừng có đùa với tầm nhìn chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Về chiến thuật, trong khi Trung Quốc xâm phạm vòng ngoài thì cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 350km về phía Đông Nam, nằm ở độ sâu 120m, gần khu vực bãi Tư Chính thì Việt Nam đã hạ đặt xong chân đế giàn khoan Sao vàng - Đại nguyệt nặng 14.000 tấn. Hạ đặt một giàn khoan không phải dễ dàng, nó yêu cầu rất cao về điều kiện “trời yên biển lặng”. Nhớ lại năm 2014, khi Trung Quốc lắp đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam, họ phải sử dụng hàng trăm tàu vòng trong vòng ngoài để ngăn cản lực lượng chấp pháp của ta tiếp cận bởi họ là một kẻ ăn cắp, luôn lo sợ và phải rào trước đón sau. Thế nhưng trước hành động gây hấn của Trung Quốc, lần này đến lượt Việt Nam vẫn đàng hoàng hạ đặt chân đế giàn khoan Sao vàng - Đại nguyệt bởi chúng ta có quyền làm điều đó với vùng biển thuộc chủ quyền của mình.

Trong quá trình kéo và hạ đặt chân đế giàn khoan Sao vàng - Đại nguyệt, phía Trung Quốc không dám có động thái quấy rối nào. Đặng Trường cho rằng phía Trung Quốc cũng biết sự kiện này nhưng họ không có cớ hay tư cách gì để cản phá. Việc hạ đặt thành công chân đế giàn khoan này không chỉ thể hiện ý chí của Việt Nam không lùi bước trước sự ngang ngược của Trung Quốc mà còn mang ý nghĩa đóng dấu khẳng định chủ quyền của nước ta trên biển.

Cũng xin nói thêm, dự án Sao vàng - Đại nguyệt có sự tham gia của hai tập đoàn lớn của Nhật Bản là Sumitomo và Idemitsu. Từ đây, có thể thấy nếu Việt Nam kêu gọi đầu tư và tận dụng được cơ hội hợp tác với các cường quốc, gắn chặt lợi ích của họ với Việt Nam theo kiểu cộng sinh như dự án Sao vàng - Đại nguyệt lần này thì Trung Quốc sẽ chẳng dám làm gì cả.

Tiếp theo, Việt Nam sẽ đối đầu với tàu thăm dò Hải Dương 8, tàu hải cảnh của Trung Quốc như thế nào để vừa bảo vệ được chủ quyền của mình, vừa tránh căng thẳng leo thang? Liệu dự án Sao vàng - Đại nguyệt sẽ đảm bảo đúng tiến độ? Vấn đề không phụ thuộc vào ý chí của Trung Quốc mà nằm trong ý chí mạnh mẽ của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nếu như nhân dân đoàn kết, hành động tỉnh táo, khôn ngoan hơn nữa thì xin lỗi có 10 Trung Quốc cũng là chuyện nhỏ với Việt Nam.


Đặng Trường

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 27/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

Trung Quốc đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 trở lại hoạt động xâm phạm vùng biển Việt Nam, lòng dân như sục sôi ngóng tin về cuộc đấu tranh của các lực lượng chấp pháp ta tại bãi Tư Chính. Nhưng sự quan tâm ấy lại như có vẻ chòng chành trước luồng ý kiến gây hoài nghi về ứng phó của Việt Nam. Nhất là khi kẻ tung người hứng, “BBC” bày trò “Việt Nam phải phản ứng quyết liệt hơn”, tự suy diễn rồi “góp ý” phải thế này, phải thế kia, thì “RFA”, “Nguyễn Văn Đài”, “Hoa Kim Ngô” lại rêu rao rằng, lãnh đạo Việt Nam “không hành động gì”, từ đó kích động người dân “phải có chính kiến” bằng cách xuống đường biểu tình. Ừ thì Việt Nam có “làm gì đâu”, chúng ta chỉ:

image005
image003

THỨ NHẤT, nhận diện rõ kịch bản và cái bẫy của Trung Quốc là gây hấn, khiêu khích để lực lượng chấp pháp của ta mất bình tĩnh nổ súng trước, để chúng có cái cớ hòng lu loa với thế giới rằng Việt Nam gây hấn trước. Bằng thủ đoạn này họ biến mình từ kẻ cắp trở thành nạn nhân, rồi từ đó tấn công ta để hợp thức hóa hành động xâm lăng. Nhưng ta quá hiểu, tỉnh táo, kiên quyết bảo vệ chủ quyền. Trên thực địa, chúng ta duy trì thế chủ động trong tương quan lực lượng và không ngần ngại duy trì việc thực hiện các hoạt động kinh tế trên vùng biển của ta. Mặc cho Trung Quốc gây hấn, giàn khoan Hakuryu-5 của ta vẫn kéo dài thời gian hoạt động thêm một tháng rưỡi so với dự kiến ban đầu.

THỨ HAI, về đấu tranh ngoại giao. Việt Nam đã trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam. Bộ Ngoại giao liên tiếp đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ lên án Trung Quốc, đồng thời kêu gọi “tất cả các bên liên quan và cộng đồng quốc tế …”. Tuyên bố này báo hiệu một sự chuyển dịch quan trọng. Đặc biệt câu “Duy trì trật tự, hòa bình, an ninh ở khu vực biển Đông là lợi ích chung của các nước. Do đó, Việt Nam mong muốn các nước liên quan và cộng đồng quốc tế cùng nỗ lực đóng góp nhằm bảo vệ và duy trì lợi ích chung này”.

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh thậm chí chỉ đích danh và lên án hành vi xâm lược của Trung Quốc ngay tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN 52. Rồi thẳng thắn đề nghị “ASEAN giữ vững đoàn kết và tiếng nói chung; tái khẳng định các nguyên tắc và cam kết đối với hoà bình và ổn định; lên tiếng kêu gọi kiềm chế…”. Việt Nam gọi và bạn bè quốc tế đã đáp hồi, ngay tối ngày 31/7, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã thống nhất ra Tuyên Bố chung trong đó kêu gọi các bên tự kiềm chế, giải quyết tranh chấp hòa bình theo luật pháp quốc tế.

THỨ BA, Chúng ta hạ đặt thành công chân đế giàn khoan khai thác “Sao Vàng - Đại Nguyệt” siêu to khổng lồ, nặng 14.000 tấn tại khu vực gần bãi Tư Chính. Vậy là cột mốc khổng lồ thể hiện chủ quyền của ta đã lừng lững xuất hiện trên biển, chẳng cần phải vác ra tòa án quốc tế, chủ quyền ta thì ta cứ đóng giàn ở đó thôi. Đây là minh chứng rõ nhất thể hiện ý chí của Việt Nam không thể lùi bước thêm nữa trước sự ngang ngược của Trung Quốc.

Ngay cả khi không có cuộc đối đầu với Trung Quốc thì việc hạ đặt thành công này cũng là một cột mốc đáng ghi nhận. Vì không ai biết được cái “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc vẽ ra nó có tọa độ chính xác bao nhiêu, được nối như thế nào. Trung Quốc cũng không biết (có đâu mà biết) và họ sử dụng nó mỗi khi thuận tiện để đòi xác định khu vực tranh chấp. Các mỏ Sao Vàng - Đại Nguyệt, Hải Thạch - Mộc Tinh, Lan Tây - Lan Đỏ đều có nguy cơ bị Trung Quốc kiếm chuyện như thế. Chính vì nhận thức được nguy cơ này mà Việt Nam mời gọi các nhà đầu tư Nga, Nhật tham gia. Một bước đi mà như Giáo sư Panos Mourdoukoutas, trưởng khoa Kinh tế Đại học LIU Post, New York nhận định: “Việt Nam có một chiến lược thông minh để ngăn chặn âm mưu bành trướng trên biển của Bắc Kinh, đó là hợp tác với hãng dầu mỏ khổng lồ Rosneft của Nga. Sự hiện diện của Nga có thể xem là một nhân tố “thay đổi cuộc chơi”, khiến Trung Quốc không thể hoành hành với yêu sách “Đường chín đoạn” phi lý hay đối đầu với hải quân Nga - lực lượng sẵn sàng bảo vệ lợi ích Nga trong khu vực”.

Những ngày qua, hàng loạt các tướng lĩnh và chuyên gia, học giả quốc tế như Tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper; Đại tướng David L. Goldfein, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, và Đại tướng Charles Q. Brown Jr, Tư lệnh Không quân Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương; Nguyên Phó Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Katsuhito Asano; Giáo sư Stein Tonnesson thuộc Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, Na Uy;… đồng loạt lên án Trung Quốc, ủng hộ chủ quyền và sự chính nghĩa của Việt Nam.

Các cụ ngày xưa có câu: “Điền tư ngư chung / Ai khéo vẫy vùng thì mới thành của riêng”. Có thể hiểu, đất đai, ruộng vườn hay thậm chí là biên giới lãnh thổ trên đất liền dù khó đến mấy, cũng có thể phân định, đo đạc để chốt hạ quyền sở hữu riêng có; nhưng biển lại khác. Ngư trường ở biển mênh mông vốn khó phân định, nên không cẩn thận dễ bị xâm phạm, biến thành của chung. Để giải quyết được vấn đề này, “khéo vẫy vùng” đồng nghĩa với việc ta phải có một chiến lược hết sức trí tuệ để gìn giữ không gian sống ông cha để lại, gìn giữ cuộc sống yên lành. Và Việt Nam như Giáo sư Mỹ Panos Mourdoukoutas đánh giá: “đã đứng lên đấu tranh với Trung Quốc bằng chiến lược dũng cảm và thông minh” và “Cả hai chiến lược đều hiệu quả”.

THỨ TƯ, hiện nay, ngoài thực địa, những lực lượng chấp pháp của nước ta như Kiểm Ngư, Cánh sát Biển và cả bà con ngư dân vẫn đang ngày đêm bám trụ, kiên trì tuyên truyền để các lực lượng của Trung Quốc hiểu rằng, họ đang xâm phạm, họ đang làm sai, buộc họ phải rút về nước. Chúng ta đang áp dụng những biện pháp phù hợp và đúng đắn nhất, để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài, bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới, hiểu được rằng Việt Nam đang bảo vệ Tổ quốc bằng những biện pháp mềm dẻo và kiên quyết nhất. Không phải cứ dùng vũ lực, cứ đụng độ, cứ đánh nhau mới là mạnh mẽ.

Trên khắp Tổ quốc mình, địa phương nào cũng có cha mẹ, vợ, con liệt sỹ… đó là đau thương, là sự tàn khốc của chiến tranh chúng ta cần phải tránh bằng mọi giá. “Bởi chiến tranh không phải trò đùa” nên chúng ta cần nhận thức rõ ràng, rằng nếu để xảy xung đột, chiến tranh, với lòng yêu nước nồng nàn, với ý chí quật cường của cả dân tộc cùng sự ủng hộ của nhiều nước trên thế giới, chúng ta sẽ chiến thắng, nhưng hậu quả và cái giá phải trả chắc chắn cũng không hề nhỏ.

Đảng và Nhà nước ta đang làm tất cả mọi việc để khẳng định chủ quyền biển đảo trên cơ sở hòa bình, ổn định. Vì thế cho nên, nếu muốn trở thành một công dân tốt, có ích cho đất nước thì chúng ta hãy luôn ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, hãy là hậu phương vững chắc cho các lực lượng Kiểm Ngư, Cảnh sát Biển và ngư dân đang ngày đêm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nơi đầu sóng, ngọn gió. Hãy tránh xa những lời lẽ kích động của kẻ xấu bởi nếu không sẽ vô tình trở thành kẻ tội đồ đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc.


Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 27/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

Cách đây ít ngày, Nguyễn Linh - một bạn trẻ ham thích dùng mạng xã hội vừa viết bài phê phán các hiện tượng nhận thức lệch lạc, vừa quảng bá bán sản phẩm mật ong rừng của quê hương Hà Tĩnh đã có chuyến đi về Bình Dương. Linh bắt gặp hình ảnh trụ sở của một doanh nghiệp bề thế nay chỉ là ngôi nhà hoang nằm chỏng chơ, tường đen sì - dấu tích cuộc đốt phá của những người biểu tình nhân danh “yêu nước” vào mùa hè cách đây 5 năm. 5 năm đã trôi qua mà công ty này vẫn chẳng thể quay lại hoạt động bình thường, tòa nhà bề thế cũng chưa được sửa sang lại.

Đó chỉ là một ví dụ nhỏ cho thấy thiệt hại, sự nguy hiểm của những âm mưu kích động, phá hoại. Ngày nay, chúng ta đang thừa hưởng giá trị của hòa bình - độc lập thực sự là thành quả vĩ đại do Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đem lại. Đó là khát vọng, là thành quả của dân tộc Việt Nam mà chúng ta phải kiên trì bảo vệ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời phỏng vấn nhà báo người Anh Phê-lích Gơ-rin ngày 18-11-1965 đã khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất muốn có hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng muốn có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự”; và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình. Sự đấu tranh ấy là thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân đất Việt nhưng phải đặt trong con đường, mục tiêu, cách thức chung của đất nước, cộng đồng, trong sách lược và chiến lược của Đảng, Nhà nước. Yêu nước mà thiếu sự tỉnh táo, sa bẫy lôi kéo của các thế lực phản động, cơ hội thì chẳng khác gì rút lông ngỗng trên con đường phát triển của đất nước.

Những lời kêu gọi “một cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai” cho thấy những âm mưu phá hoại nền hòa bình, độc lập vĩ đại của đất nước ta vẫn luôn được kẻ thù rắp tâm thực hiện. Nhưng nó chỉ đánh lừa, gây dao động một bộ phận rất ít người suy nghĩ non nớt, lệch lạc. Dân tộc này, đất nước này đã trải qua biết bao hy sinh, biết bao máu và nước mắt để có nền hòa bình, độc lập hôm nay. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà kỳ nghỉ 2-9 hằng năm giờ đây được nhiều nơi gọi là Tết Độc lập. Từ “Tết” tự thân nó khiến người ta nghĩ đến cái Tết cổ truyền của cả dân tộc. Giá trị độc lập trở thành thiêng liêng, vĩnh hằng, niềm vui độc lập sau 74 năm như lắng sâu hơn, để những người đang sống hôm nay coi như một cái Tết thứ hai của mỗi người dân đất Việt. Theo đó, những kẻ cơ hội chắc sẽ thấy xấu hổ vì nếu họ phát động cái gọi là “cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai” thì mục tiêu của cuộc “cách mạng” ấy là gì, phục vụ ai, đem lại lợi ích cho ai, do ai lãnh đạo? Ai đủ tâm, tầm, trí hơn Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức của bao triệu người đã hy sinh, phấn đấu vì dân, vì nước từ khi ra đời đến nay?

Cách đây ít lâu, trả lời báo chí, một đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng khẳng định: Chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng để giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Chúng ta đánh để có hòa bình, cho nên chúng ta rất coi trọng những yếu tố, nhân tố để có được hòa bình. Thứ nhất, chúng ta giữ hòa bình, hữu nghị với những nước bạn bè. Thứ hai, hòa bình, hữu nghị để tranh thủ nhận được sự ủng hộ của các quốc gia khác trên thế giới đối với sự nghiệp xây dựng đất nước của chúng ta. Thứ ba, kể cả đối với đối tượng đối nghịch, chúng ta bao giờ cũng sẵn sàng hòa bình nếu họ tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, từ bỏ ý chí xâm lược nước ta. Chủ trương nhất quán của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xác định nhiệm vụ chung là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập, bảo vệ chủ quyền của đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó tập trung bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân; bảo vệ hòa bình bền vững cho đất nước. Đây là 3 mục tiêu chung của bảo vệ Tổ quốc và là nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng, của quân đội.

Có lẽ, đó cũng chính là tinh thần “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” như lời quả quyết của Bác Hồ trong bản Tuyên ngôn Độc lập.

Vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử

Trong một bài viết về Toàn quốc kháng chiến gần đây, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng chỉ rõ: Chúng ta luôn “quyết tâm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”; “... hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đối sách xử lý hiệu quả các tình huống và trong quan hệ đối ngoại; bảo đảm không bị động, bất ngờ về chiến lược, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.

Nhận thức sâu sắc những bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã và đang thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong bảo vệ Tổ quốc. “Dĩ bất biến” trong kiên định đường lối, mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình và “ứng vạn biến” bằng sách lược mềm dẻo, phương thức linh hoạt, đối phó hiệu quả với sự biến động phức tạp của tình hình; sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng; với mọi âm mưu, thủ đoạn, tình huống của các thế lực thù địch, phản động, nhằm đạt mục tiêu cao nhất. Chúng ta cũng xác định vừa hợp tác, vừa đấu tranh, theo tinh thần thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng, tận dụng tối đa quan hệ với các nước lớn, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng giải quyết tranh chấp, bất đồng, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực. Chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững, tận dụng luật pháp quốc tế, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra xung đột, chiến tranh; không để bạo loạn kéo dài, lan rộng; không sử dụng lực lượng vũ trang giải quyết mâu thuẫn nội bộ nhân dân, mắc mưu khiêu khích, tạo cớ cho thế lực thù địch can thiệp quân sự; không để thế lực có tham vọng lãnh thổ lợi dụng hoặc thỏa hiệp với thế lực thù địch…

Nguyễn Văn Minh

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 27/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

Vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã chỉ đạo Bộ Công an điều tra làm rõ những sai phạm của Công ty cổ phần địa ốc Alibaba như báo chí đã phản ánh trong thời gian qua. Sau đó, tiến hành xử lý nghiêm các sai phạm của công ty này theo đúng quy định của pháp luật trong tháng 9/2019; đồng thời báo cáo kết quả với Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Công an TP.HCM đã gửi giấy mời đến các khách hàng đã mua đất nền của Công ty địa ốc Alibaba lên làm việc; đồng thời kêu gọi khách hàng nên tỉnh táo nhận thức các sai phạm của Công ty cổ phần địa ốc Alibaba và cung cấp thông tin cho cơ quan công an để phục vụ công tác điều tra.

Theo Công an thành phố, từ đầu năm 2017 đến nay, Công ty cổ phần địa ốc Alibaba đã ký nhiều hợp đồng mua các khu đất có mục đích sử dụng không phải là đất ở, hoặc một phần nhỏ là đất ở trong diện tích đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm, sau đó tổ chức các hoạt động giới thiệu, quảng cáo, quảng bá, bán sản phẩm đất nền cho nhiều nhà đầu tư cư trú tại TP.Hồ Chí Minh thông qua các dự án không có thật ở Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận...

Bên cạnh đó, công ty cổ phần địa ốc Alibaba đã thành lập 22 pháp nhân, sử dụng người thân, quen trong gia đình đứng tên đại diện pháp luật để kinh doanh bất động sản với tổng số hơn 1.500 nhân viên; hoạt động có dấu hiệu vi phạm pháp luật, ngang nhiên thách thức công luận và Chính quyền, gây bức xúc trong các tầng lớp nhân dân, ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự.

Căn cứ vào quy mô và diện tích khu đất, công ty này đã tự vẽ các bản thiết kế dự án phân lô, phân khu vực mà chưa thực hiện bất kỳ thủ tục nào để xin cấp phép xây dựng dự án phân lô, bán nền đất ở tại các cơ quan chức năng. Sau đó, ký hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nội dung bán đất thổ cư 100%, thời hạn sử dụng lâu dài thuộc các “Dự án” nêu trên cho khách hàng và thu 95% giá trị hợp đồng (đã bao gồm thuế VAT) nhưng chỉ xuất phiếu thu, không xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Alibaba còn thực hiện việc kinh doanh qua việc ký hợp đồng quyền chọn với khách hàng, nếu khách hàng chọn 1 trong 4 quyền chọn sau:

+ Cho Alibaba thuê lại với giá cho thuê là 2% trên tổng số tiền thực đóng trong thời hạn 1 năm kể từ ngày ký Hợp đồng. Áp dụng đối với Hợp đồng đã thanh toán 95%.

+ Thu lại lợi nhuận 12% sau 6 tháng.

+ Thu lại lợi nhuận 28% sau 12 tháng.

+ Thanh toán 50%, góp 3 triệu/tháng, lãi suất cố định 10,9%/năm.

Ngoài ra, Công ty cổ phần địa ốc Alibaba còn “thổi phồng dự án” bằng những quảng cáo, giới thiệu, chương trình sự kiện với nhiều chiêu trò khác nhau như: tặng quà, khuyến mãi, thông qua việc tổ chức mở bán các dự án đất nền để chiêu dụ khách hàng nhưng thực chất các dự án mà đơn vị nêu chỉ hoàn toàn là ảo, không có thực.

Đến nay, Alibaba đã mở 43 dự án trên giấy chủ yếu ở các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận; đã huy động hơn 6.700 khách hàng, nhà đầu tư; riêng tại TP.HCM có 1.710 người tham gia. Thực chất đây là hình thức kinh doanh đa cấp thông qua các Hợp đồng thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất, Hợp đồng Quyền chọn… nhưng không có sản phẩm thực tế, có dấu hiệu của các tội “trốn thuế”, “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”.

Nhằm tránh những rủi ro đáng tiếc, Cờ Đỏ TP.HCM cảnh báo đến người dân và khách hàng những sai phạm của Công ty cổ phần địa ốc Alibaba thời gian qua. Đồng thời, trước khi mua đất hay dự án người dân cần tìm hiểu pháp luật về đất đai, xây dựng để không ảnh hưởng tới chính quyền lợi của mình cũng như tiếp tay cho các hoạt động có dấu hiệu vi phạm pháp luật của Công ty này.

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 27/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

Bằng chứng khách quan

Lịch sử thế giới cho thấy, các nhà thám hiểm phương Tây đã rất am hiểu về biển, cũng như am hiểu buôn bán. Theo Tạp chí Phương Đông, bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây nhằm phục vụ nhu cầu đi lại buôn bán và tìm kiếm thuộc địa nên tính khách quan rất cao. “Giai đoạn cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX là thời gian chủ nghĩa thực dân đang cực thịnh và khoa học kỹ thuật của phương Tây, kể cả khoa học về hàng hải và địa lý, kỹ thuật về bản đồ đều có bước tiến khá cao. Chính trong thời gian này phương Tây đã tạo ra các sản phẩm mà ngày nay chúng ta có thể thu nạp để làm vững chắc thêm lập luận của chúng ta về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Đáng chú ý nhất trong số này là bộ Atlas thế giới Brussels 1827 với 4 tấm bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó là Bản đồ chính xác của Công ty Đông Ấn xuất bản tại Anh năm 1805, Bản đồ Đông Dương (1808, Anh), Bản đồ Địa lý, Niên biểu Lịch sử và Gia phả Lavoisme (1820, Mỹ) hay bản đồ về Đông Dương được Tạp chí Scottish Geographical Magazine xuất bản năm 1886.

Phương Tây công nhận chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam

Ngược dòng lịch sử, năm 1650, giáo sĩ Alexandre de Rhodes, một người rất am hiểu Việt Nam truyền giáo cả ở Đàng Ngoài và Đàng Trong và là một trong những người sáng tạo bộ chữ Quốc ngữ, xuất bản tại Ý cuốn sách Renu Annem, trong đó có bản đồ Vương quốc An Nam. Bản đồ này, còn được gọi là bản đồ Đắc Lộ 1650, cơ bản dựa vào Hồng Đức Bản đồ nhưng được cập nhật nhiều chi tiết hơn và rất có giá trị để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó, giáo sĩ de Rhodes dùng chữ Quốc ngữ để ghi các địa danh trên bản đồ và vẽ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa gần vĩ tuyến 16 là rất chính xác.

Thời vua Minh Mạng, giám mục người Pháp Jean-Louis Taberd (1794 -1840) thuộc Hội Thừa sai Paris xuất bản một cuốn tự điển Latin - An Nam tại Ấn Độ, trong đó có tấm bản đồ An Nam đại quốc họa đồ. Bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa ở phía trên vĩ tuyến 16 và chú thích Hoàng Sa là “Paracel hay Cát Vàng”. Một linh mục Việt Nam từng cộng tác với ông Taberd đã mang tự điển và bản đồ về nước. An Nam đại quốc họa đồ được vẽ một cách khoa học và chính xác nên năm 1862 được tái bản tại Paris để cung cấp thông tin cho quan chức Pháp tại Đông Dương.

Cựu viên chức ngoại giao Mỹ Harold E.Meinhei, một chuyên gia về châu Á, đánh giá rất cao bản đồ này về mặt chứng cứ hậu thuẫn cho Việt Nam đấu tranh với Trung Quốc về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặt khác, vào thế kỷ XVI, các nước phương Tây đua nhau thám hiểm các vùng biển xa để tìm kiếm hương liệu, thị trường và chiếm thuộc địa, trong đó có Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Anh.

Từ thế kỷ thứ XVI, người Bồ Đào Nha đã khám phá quần đảo nằm ngoài khơi phía đông của Đàng Trong và đặt tên những đảo này là “Parcel” (nghĩa là đá ngầm) rồi sau thành “Pracel”. Bản đồ của nhà thám hiểm và bản đồ học Diogo Ribeiro vẽ trong nửa đầu thế kỷ XVI ghi rõ “Pracel” là của Việt Nam.

Do nhu cầu đi lại rất nhiều từ thế kỷ XV - XVII, người Bồ Đào Nha và Hà Lan vẽ hàng ngàn bản đồ về vùng biển Đông Nam Á, tất cả đều ghi Pracel là của Việt Nam.

Tương tự, nhiều bản đồ khác gọi Hoàng Sa bằng tên tiếng Hà Lan là “Paracels” hoặc gọi chung Hoàng Sa - Trường Sa bằng tên “Paracel” và các nhà hàng hải, địa lý luôn đề cập Paracels/Paracel thuộc hải phận Vương quốc Đàng Trong.

Trong số này có Bản đồ Đông Dương (Carte de La Penisula Indochinoise) do nhà địa lý Hà Lan Frere Van Langren vẽ và được Công ty Đông Ấn Hà Lan phát hành năm 1595.

Bên cạnh đó, còn nhiều bản đồ khác được ấn hành trong khoảng 1630 - 1650 như Bản đồ Merian (1650) vẽ 2 quần đảo của Việt Nam riêng biệt: Hoàng Sa ngoài khơi Đà Nẵng, còn Trường Sa ngoài khơi Bà Rịa-Vũng Tàu ngày nay.

Đến cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà địa lý Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Mỹ soạn thảo và ấn hành bản đồ vùng Đông Nam Á. Tất cả đều ghi quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Trường Sa của Việt Nam. Đặc biệt thời kỳ này, các nhà hàng hải, nhà nghiên cứu địa lý đã phân biệt rõ ràng Hoàng Sa và Trường Sa. Cụ thể, bản đồ Partie de la Cochinchine của Philippe Vandermaelen xuất bản tại Brussels vào năm 1827 vẽ Hoàng Sa với tọa độ khá chính xác (16 - 17 độ vĩ bắc, 109 - 111 độ kinh đông). Nhà địa lý người Bỉ này cũng ghi khá rõ các điểm quan trọng trên bờ biển Vương quốc Đàng Trong và khẳng định Hoàng Sa thuộc Việt Nam.

Xâm phạm vùng biển Việt Nam: Trung Quốc đang là mối hiểm họa đe dọa đến an ninh, hòa bình khu vực

Các chuyên gia trong nước, quốc tế chỉ ra ý đồ nguy hiểm lẫn hậu quả khó lường từ việc tàu Trung Quốc tái diễn xâm phạm vùng biển Việt Nam. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng: “Tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 8 và một số tàu hộ tống của Trung Quốc đã trở lại hoạt động xâm phạm vùng biển Việt Nam” và nhấn mạnh đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và hiện lực lượng chức năng tiếp tục triển khai các biện pháp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Sự khẳng định liên tục này hết sức quan trọng trong việc làm thất bại ý đồ nguy hiểm đằng sau hành động ngang ngược, phi pháp của Trung Quốc.

Chính nghĩa thuộc về Việt Nam!

Vũ Công Nghệ

Trích đăng từ trang Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 29/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

 

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                                         Nguyễn Văn Phương

Tiến sĩ Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Bộ Quốc phòng

Nửa thế kỷ trôi qua, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Nội dung bản Di chúc không chỉ là những lời tâm huyết, sâu lắng, tràn đầy yêu thương và trách nhiệm của Người đối với đất nước, dân tộc mà còn chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với con đường và công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam ngày nay.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Di sản vô giá, ngọn đuốc cho cách mạng Việt Nam

Năm mươi năm trước, sau khi đã “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, trước lúc đi xa, để “Đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta bản Di chúc thiêng liêng, đó là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Những lời căn dặn cuối cùng của Người là những tình cảm và niềm tin của Người đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

Bản Di chúc là sự tổng kết sâu sắc suốt chặng đường đấu tranh để đi đến thắng lợi vô cùng vẻ vang của cách mạng Việt Nam; đồng thời, vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước. Di chúc ấy là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, nguồn sức mạnh để động viên, cổ vũ nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, thực hiện mục tiêu cao cả: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Người tìm ra, suốt đời phấn đấu, hy sinh để thực hiện mục tiêu đã được xác định.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, kết hợp và phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, viết nên  bản hùng ca vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, Di chúc thiêng liêng của Người vẫn là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối cho công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã và đang tiến hành là cuộc đổi mới được thực hiện dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới được bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chỉ là sự tiếp tục tất yếu của toàn bộ sự nghiệp đổi mới lâu dài mà Đảng, nhân dân ta tiến hành dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hoài bão và mong muốn tột bậc của Người từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến phút cuối cùng trước khi về cõi vĩnh hằng là: Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người căn dặn: Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Mục tiêu của cách mạng được Người khái quát hết sức rõ ràng và bình dị mà ai cũng có thể hiểu được và phấn đấu để thực hiện. Nhưng để xác định được những điều đó, Người phải rời xa Tổ quốc thân yêu, bôn ba khắp năm châu, bốn biển suốt 30 năm. Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, giữa đêm dài nô lệ, dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, đã có nhiều sĩ phu, văn thân, chí sĩ yêu nước xả thân vì dân, vì nước và ra đi để tìm đường cứu dân, cứu nước. Song duy nhất chỉ có Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó ánh sáng soi đường cứu dân, cứu nước… như Người đã khẳng định sau khi được đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Rõ hơn, muốn giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Kể từ đó, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu và sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

Không có gì quý hơn độc lập, tự do - Chân lý của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới

Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc. Qua hàng ngàn năm, các thế hệ người Việt Nam đã nối tiếp nhau chiến đấu cho nền độc lập, tự do của nhau chiến đấu cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Có thể nói, chưa có một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, trong đó có các cuộc chiến tranh phải chống lại các thế lực xâm lược hung hãn nhất, hùng mạnh nhất của thời đại để giành độc lập, tự do. Chính vì thế, hơn ai hết nhân dân Việt Nam là người thấu hiểu giá trị của độc lập, tự do, hòa bình. Từ thực tiễn chống ngoại xâm, ông cha ta đã đúc kết được nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu. Trí tuệ đánh giặc giữ nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam. Hồ Chí Minh đã mang theo trí tuệ đó trong hành trình tìm đường cứu nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là sự kết hợp tinh hoa của dân tộc với trí tuệ của thời đại, là học thuyết Mác - Lênin và thực tiễn của cả cuộc đời đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng cao thượng, phong phú và sáng tạo của Người cho độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Vì vậy, chân lý Không có gì quý hơn độc lập, tự do do Người tổng kết không chỉ là chân lý cho dân tộc Việt Nam mà còn là chân lý cho tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc trong thời đại ngày nay. Chân lý đó được các dân tộc trên thế giới thừa nhận như một lẽ tự nhiên, không ai có thể bác bỏ. Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là bước phát triển mới của học thuyết Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có sự gắn bó thống nhất: Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự gắn bó này vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột. Mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là vì con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân và xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công giữa người với người. Bởi vì, nếu xóa bỏ áp bức dân tộc mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng. Theo Người, độc lập, thống nhất của Tổ quốc phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người nhiều lần nhắc nhở: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, Người mong muốn: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Đó không chỉ là lời động viên, khích lệ, mà còn là niềm tin và mong ước của Người trước lúc đi xa. Người cũng dự liệu rằng, chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chỉ có phát triển kinh tế, văn hóa một cách mạnh mẽ mới có thể làm cho dân giàu, nước mạnh. Đấu tranh giành cho được độc lập, tự do đã khó, nhưng làm cho những giá trị của độc lập, tự do có ý nghĩa thực sự, biến những giá trị tinh thần - chính trị thành những giá trị vật chất cụ thể lại còn khó khăn hơn nhiều. Vì vậy, giành được độc lập rồi phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội là sự bảo đảm vững chắc nhất cho nền độc lập dân tộc.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Người đi vào cõi vĩnh hằng nhưng tên tuổi, sự nghiệp vĩ đại cùng với tấm lòng nhân ái của Người vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử mới của Đảng ta. Suy ngẫm và cảm nhận nhiều điều sâu sắc từ bản Di chúc thiêng liêng của Người, mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là mỗi cán bộ, đảng viên luôn nguyện ra sức phấn đấu, thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đó là phương cách tốt nhất để thể hiện lòng biết ơn và thực hiện lời hứa thiêng liêng với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

CHỐNG “TƯ DUY NHIỆM KỲ” TỪ BÀI HỌC ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                              Lê Thanh Hà

PGS.TS, Viện Triết học, Học viên chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian, tâm huyết cho việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Để làm tốt điều đó, theo Người, cần quan tâm, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, bởi chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân sinh ra hàng trăm thứ bệnh, mà một trong số đó hiện nay là “tư duy nhiệm kỳ”. Muốn loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” cần quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng; do đó, nghiên cứu, quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân sẽ rút ra bài học có giá trị đối với việc đấu tranh chống ‘tư duy nhiệm kỳ” ở Việt Nam hiện nay.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân có mặt mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, bên trong mỗi con người và chỉ chờ thời cơ để bộc lộ. Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đã căn dặn toàn Đảng phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân; bởi theo Người: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ để ra tất cả mọi tính hư, nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô,… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Cụ thể hơn, “chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác.

Ngày nay, chủ nghĩa cá nhân đang là bệnh “mẹ” của “tư duy nhiệm kỳ”. “Tư duy nhiệm kỳ” là một khái niệm mới kể cả nội hàm và ngoại diên. Có thể hiểu, “tư duy nhiệm kỳ” là tầm nhìn ngắn hạn, là cách làm việc siêu hình, thiển cận của một số cán bộ, đảng viên giới hạn trong một nhiệm kỳ mình tại vị. Mục tiêu của họ là chạy theo lợi ích cục bộ, lo thu vén cho lợi ích cá nhân hơn là lo nghĩ cho lợi ích của đất nước, lợi ích tập thể. Trong nhiệm kỳ nắm giữ cương vị lãnh đạo, họ không muốn nghĩ, không muống trăn trở để tìm tòi hướng đi mới, cách làm hay đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước mà họ tìm mọi cách vơ vét lợi ích cho bản thân, “giữ ghế” an toàn để đến hết nhiệm kỳ để về hưu hoặc được luân chuyển đi nơi khác có vị trí cao hơn. Về cơ bản, chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” có cùng bản chất và được biểu hiện ở các mặt sau:

Một là, chủ nghĩa cá nhân thích hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn của cá nhân, của nhóm lợi ích. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích của cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. Biểu hiện này giống với “tư duy nhiệm kỳ”, vì những người mắc bệnh “tư duy nhiệm kỳ” cũng thường chạy theo lợi ích cục bộ nhằm đạt được mục tiêu, lợi ích ngắn hạn, không quan tâm đến mục tiêu dài hạn, mục tiêu chiến lược, hiệu quả lâu dài mà chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân, hưởng thụ thành quả trước mắt hơn là lo nghĩ cho lợi ích của đất nước. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đó là bệnh cận thị, “không trông xa, thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú việc tỉ mỉ. Thí dụ việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước vo gạo trong các bộ đội. Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn”. Những người có tư tưởng chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” này chủ yếu làm những việc lặt vặt, trước mắt, sắp xếp công việc một cách lộn xộn, thiếu tính lô-gic khoa học. Người cán bộ, lãnh đạo có “tư duy nhiệm kỳ” sẽ tìm cách sử dụng quyền lực, lợi dụng uy tín, ảnh hưởng, chức vụ của mình trong nhiệm kỳ công tác để tạo ảnh hưởng hoặc ra những quyết định nhằm phục vụ lợi ích cá nhân. Mục đích của những người có “tư duy nhiệm kỳ” là “vụ lợi cá nhân” để hưởng thụ. “Vụ lợi cá nhân” trong trường hợp này cần được hiểu theo nghĩa rộng là nhằm phục vụ cho lợi ích bản thân người cán bộ lãnh đạo, cho gia đình và thậm chí là cho “phe”, “cánh” của người đó.

Sự kết hợp của “tư duy nhiệm kỳ” và chủ nghĩa cá nhân đã tạo ra những biểu hiện tha hóa trong sử dụng quyền lực, phá vỡ trật tự, kỷ cương, làm băng hoại giá trị truyền thống trong các quan hệ xã hội. Hành vị này tạo ra hiện tượng chạy cơ chế, chạy chính sách, chạy quy hoạch, chạy dự án, chạy vốn, chạy chức, chạy quyền, chạy luân chuyển, chạy thành tích và cả chạy tội, chạy án…; làm sai lệch các tín hiệu thị trường, cơ cấu và định hướng phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực quốc gia; làm tăng nợ công và sự bất ổn vĩ mô; làm mất tính nghiêm minh và chuẩn mực của pháp luật; làm giảm sút hiệu quả đầu tư, làm mất cơ hội và sức cạnh tranh trong nền kinh tế.

Hai là, chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh quan liêu, kiêu ngạo, hình thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức”. Chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh kiêu ngạo, tự cao, tự đại, hay lên mặt, ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình, thích sai khiến người khác. Những căn bệnh đó cũng là biểu hiện cụ thể của ‘tư duy nhiệm kỳ” với các đặc điểm chủ yếu, như động cơ hám danh, hám quyền lực, hám lợi, thích khoe khoang. “Tư duy nhiệm kỳ”, với cách tư duy ngắn hạn, dẫn đến thái độ làm việc tắc trách, không đi sâu, đi sát công việc, và khi đã yên vị trên “ghế” rồi thì dễ dẫn đến quan liêu, kiêu ngạo và bệnh hình thức. Người có biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” thường đề ra mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ cao hơn nhiệm kỳ trước, không sát với yêu cầu thực tiễn, từ đó tìm mọi cách để đạt được các ý đồ đã đề ra có lợi cho bản thân, cho nhóm lợi ích của mình; hoặc thực hiện những chỉ tiêu, mục tiêu, dự án, chương trình nhanh thu lợi nhất, có kết quả ngay, để lại dấu ấn trong nhiệm kỳ mình đương chức, và bỏ bê các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, dự án khó thực hiện, thực hiện không có lợi, không có hiệu quả ngay, không để lại dấu ấn, viện dẫn lý do ngụy biện để lại cho nhiệm kỳ sau, cho người kế nhiệm. Bệnh quan liêu, hình thức của “tư duy nhiệm kỳ” thể hiện rõ thông qua các công trình hoành tráng, như tượng đài, đình, chùa, nhà văn hóa, sân vận động, cầu cống, đường xá,…; tổ chức các lễ kỷ niệm, lễ hội thật lớn để ghi dấu ấn. Hay bệnh hình thức, thành tích trong chính trị thì biểu hiện ở việc chạy các danh hiệu, như chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động,… trong nhiệm kỳ mình đương chức để phô trương, khuếch đại thành tích tập thể, cá nhân, “đánh bóng tên tuổi”. Hậu quả là lãnh đạo thì trong “men say” của niềm tự hào, kiêu hãnh mà không dựa trên năng lực thực tế của địa phương. Đây cũng là động cơ của những kẻ cá nhân chủ nghĩa trước đây và bây giờ là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”.

Ba là, chủ nghĩa cá nhân ngại khó khăn, gian khổ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, cục bộ, bè phái. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…”. Mang trong mình chủ nghĩa cá nhân, những người này ngại khó khăn, gian khổ, có lối sống ích kỷ, thực dụng, thường lợi dụng những sơ hở trong chính sách và trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; đồng thời khi ngon ngọt, khi công kích để, một mặt, cấu kết, bè phái; mặt khác, chống phá, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ thấp uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân, không thăng tiến được, không kiếm được nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn, buông xuôi. Do đó, khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch, các phần tử này dễ quay ra chống lại Đảng và chế độ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đây cũng là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”, vì cùng có chung một đặc điểm nguy hiểm là thoái thác trách nhiệm, lạm dụng các kẽ hở và ẩn mình trong vỏ bọc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhưng thực chất là nhân danh cái tốt đẹp, lợi ích tập thể, cộng đồng để thu vén cho lợi ích cho cá nhân, gia đình, hoặc “nhóm cánh hẩu” của mình. Sự cấu kết giữa các cá nhân chủ nghĩa với các nhà hoạch định chính sách theo “tư duy nhiệm kỳ” dễ dẫn đến tham nhũng, hoặc trục lợi, thu lợi nhanh nhất cho cá nhân, cho một nhóm người và hệ lụy của nó là phá hỏng thành quả của xã hội, để lại hậu quả cho các nhiệm kỳ sau phải gánh chịu và khắc phục.

Người có “tư duy nhiệm kỳ” thường ý chí hóa cá nhân vào chủ trương lãnh đạo của cấp ủy, nhằm né tránh nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý ở “bình minh nhiệm kỳ” thì hứa hẹn, hô hào, nhưng đến nửa nhiệm kỳ thì nhạt dần và đến cuối nhiệm kỳ thì tỏ ra đối phó, trì trệ, cầm chừng. Với “tư duy nhiệm kỳ”, người kế nhiệm thay vì tiếp tục thực hiện, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm kế hoạch “dài hơi” của người tiền nhiệm thì lại đặt ra kế hoạch mới để rồi cũng dang dở khi về hưu, hoặc chuyển công tác. Đặc biệt, ở “hoàng hôn nhiệm kỳ”, họ thường tranh thủ thực hiện “chuyến tàu vét” bằng cách ký kết các dự án kinh tế kém hiệu quả, đề bạt, bổ nhiệm hàng loạt cán bộ, trong đó có cả những cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất… Sự thiếu khách quan và những tiêu cực của nó đã hình thành nên một dàn cán bộ lãnh đạo khóa sau cũng rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “tư duy nhiệm kỳ”; làm thui chột động lực học tập, rèn luyện, phấn đấu của những cán bộ tốt; tạo nên dư luận xấu trong nội bộ và đối với cả những cán bộ được đề bạt.

Với những biểu hiện nêu trên, chúng ta thấy chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Từ chủ nghĩa cá nhân đã sinh ra “tư duy nhiệm kỳ” - tư duy ngắn hạn, chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt. Đồng thời, “tư duy nhiệm kỳ” luôn gắn liền với lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt mà không thấy lợi ích lâu dài của đất nước, của nhân dân. Cả hai căn bệnh này đều là “giặc nội xâm”, chúng phá hoại đất nước từ bên trong và nguy hại hơn bất kỳ kẻ địch nào khác. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Còn hiện nay, tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết Trung ương 3 khóa XI (ngày 10-10-2011), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến “tư duy nhiệm kỳ” của cán bộ, đảng viên ở nước ta như một căn bệnh, một tệ nạn trong xã hội cần phải chống. Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta cũng khẳng định, cùng với “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ” chính là một trong những rào cản lớn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Vì vậy, Đảng ta chủ trương “Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”.

Nguyên nhân chủ yếu của “tư duy nhiệm kỳ” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân họ sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Vì vậy, loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” cần phải gắn chặt với chống chủ nghĩa cá nhân và phải coi đó là nhiệm vụ thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cuộc đấu tranh loại bỏ “tư duy nhiệm kỳ” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ, bởi lẽ chủ nghĩa cá nhân và “tư duy nhiệm kỳ” là những kẻ thù không lộ nguyên hình mà ẩn nấp trong tư tưởng, suy nghĩ của mỗi cá nhân và hành vi của mỗi cá nhân đó. Do đó, đấu tranh với ảnh hưởng tiêu cực của “tư duy nhiệm kỳ” là vấn đề mang tính chiến lược, cấp bách, song không hề dễ dàng, cần đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất, trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền các cấp, huy động sự ủng hộ và tham gia của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Trích đăng từ Tạp chí Cộng sản của Đảng phát hành tháng 8 năm 2019.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

Trong tháng 7-2019, nhà cầm quyền Trung Quốc đã đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 và các tàu hộ tống của Trung Quốc đến hoạt động tại khu vực bãi Tư Chính, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đến đầu tháng 8-2019, tàu Hải Dương 8 được rút đi nhưng chỉ ít ngày sau thì họ quay trở lại. Trong thời gian này, các cơ quan chấp pháp của Việt Nam đã kiên trì thực hiện các biện pháp hòa bình để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của nước ta theo luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, một số cá nhân tổ chức đã tự phát tổ chức các cuộc tụ tập lẻ tẻ trên dưới 10 người ở vài nơi, đồng thời kêu gọi người dân thực hiện cái gọi là “biểu tình” để phản đối hành động sai trái của Trung Quốc. Xét ở góc độ tinh thần yêu nước, điều này hoàn toàn có thể chia sẻ được, nhưng xét ở góc độ thực tiễn, việc tuần hành hay biểu tình không giúp giải quyết được vấn đề. Đồng thời, nếu nhìn lại quá khứ, hành động này có thể tạo ra những hệ lụy không nhỏ cho người dân, cho đất nước. Đó là bài học rút ra từ vụ việc của giàn khoan Hải Dương 981 từ 5 năm trước.

Ngày 2-5-2014, giàn khoan Hải Dương 981 được Trung Quốc đưa đến khu vực biển cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa (huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng của Việt Nam) 17 hải lý (khoảng 30 km) về phía nam, cách đảo Hải Nam 180 hải lý 180 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi của Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông. Vị trí mà Trung Quốc đặt giàn khoan nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam.

Ngay khi xảy ra vụ việc, phía Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của mình, như cử nhiều tàu bao gồm tàu cảnh sát biển, tàu kiểm ngư tới các khu vực gần giàn khoan, tổ chức bảo vệ các tàu cá của ngư dân Việt Nam bị các tàu của Trung Quốc đâm va, đánh chìm, cướp tài sản; hai bên đã có nhiều cuộc làm việc để giải quyết vấn đề trên cơ sở hòa bình; trao công hàm phản đối, yêu cầu Trung Quốc phải rút ngay giàn khoan và tàu hộ tống... Thủ tướng  Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lúc ấy cũng đã tố cáo hành động này của Trung Quốc tại Hội nghị Thượng định ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhiều lần thực hiện các cuộc điện đàm về vụ giàn khoan Hải Dương 981, yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan và tàu hộ tống ra khỏi vị trí tranh chấp. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đưa công hàm phản đối Trung Quốc ra Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác cùng các cơ quan báo chí. Tại Đối thoại ASEAN - Mỹ lần thứ 27 diễn ra tại Yangon, Myanmar, Việt Nam tố cáo Trung Quốc hạ đặt giàn khoan và đưa nhiều tàu hộ tống bảo vệ xâm phạm sâu trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời liên tục gây hấn, cố tình đâm húc, gây hư hại các tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển, tàu cá của ngư dân Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Sở Ngoại vụ TP.HCM mời Tổng Lãnh sự Trung Quốc tại TP.HCM đến để phản đối việc Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và của Việt Nam.

Chúng ta cũng đã tổ chức nhiều đợt đưa phóng viên nước ngoài ra tác nghiệp tại thực địa, qua đó nhiều hình ảnh về các hoạt động sai trái, thô bạo của phía Trung Quốc được lan truyền khắp thế giới, tạo nên làn sóng phản đối Trung Quốc và ủng hộ Việt Nam rộng rãi ở nhiều nước.

Do sự đấu tranh quyết liệt của phía Việt Nam, sự phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, ngày 16-7-2014, toàn bộ tàu của Trung Quốc cùng với giàn khoan đã rút khỏi khu vực hạ đặt và di chuyển về phía đảo Hải Nam.

Trong thời gian này, một số cuộc tuần hành, biểu tình đã diễn ra ở vài nơi trong nước và một số nước khác. Đặc biệt, các cuộc tuần hành tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Huế, Quảng Nam… vào ngày chủ nhật. Ở một vài nơi, có tình trạng một số kẻ lợi dụng tuần hành để trưng các khẩu hiệu khác với tính chất của cuộc tuần hành, làm số đông người dân tham gia bức xúc và phản đối.

Tuy nhiên, từ chiều tối 12, tiếp đó là trong các ngày 13, 14-5-2014, nhiều công nhân tại các khu công nghiệp ở Hà Tĩnh, Đồng Nai, Bình Dương và TP.HCM bỏ việc và biểu tình tuần hành phản đối Trung Quốc. Trong đó, tại Bình Dương, trà trộn vào công nhân, một số người đã gây hấn, đập phá các công ty của người Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, kể cả Nhật Bản, gây hỗn loạn cục bộ ở vài nơi. Trong vụ việc này, có nhiều công ty nước ngoài bị đập phá, đốt cháy; nhiều nơi xảy ra tình trạng trộm cắp tài sản; hiện tượng các phần tử xấu kích động công nhân phá hoại tài sản, bỏ việc, xuống đường biểu tình xảy ra khá phổ biến ở các công ty, khu công nghiệp… Có trên một số chiến sĩ công an bị thương khi làm nhiệm vụ, chủ yếu do các đối tượng quá khích dùng gạch đá ném. Trong các vụ bạo động này, đã xảy ra tình trạng chết người và nhiều người bị thương.

Sau vụ việc, nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp phải ngưng hoạt động dài hạn, do nhà xưởng, máy móc, thiết bị bị hư hỏng, mất mát. Một số doanh nghiệp cũng đã chấm dứt hoạt động tại Việt Nam. Nhiều đối tượng quá khích và có hành vi vi phạm pháp luật đã bị xử lý. Chính quyền các địa phương phải thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ công nhân bị mất việc và các doanh nghiệp bị thiệt hại do bạo động gây ra.

Một số bài học rút ra từ vụ việc này là:

Thứ nhất, nhìn chung, các cuộc tuần hành phản đối hành động sai trái của phía Trung Quốc đã góp phần khơi gợi và lan tỏa tinh thần yêu nước của người dân. Tuy nhiên, gần như đằng sau vụ tuần hành nào cũng có hiện tượng lợi dụng, phá rối. Đó là các phần tử cơ hội chính trị, phản động, khủng bố tranh thủ đưa các khẩu hiệu “lạc quẻ” với nội dung và tính chất của cuộc tuần hành. Đó là hiện tượng kích động hành vi bạo lực, vi phạm pháp luật của một số phần tử xấu đối với người tham gia tuần hành. Đó là việc lợi dụng hỗn loạn để cướp phá tài sản, trả thù cá nhân… Những điều này gây tác động xấu về nhiều mặt đến đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội…

Thứ hai, bên cạnh việc khẳng định lòng yêu nước của người dân thì thiệt hại đến nhiều đối tượng cũng diễn ra với mức độ không nhỏ. Không chỉ các doanh nghiệp bị thiệt hại tài sản, đình đốn sản xuất mà chính công nhân – những người vô tình hay cố ý tham gia các vụ đình công, tuần hành, phá hoại – và nhiều người khác, bị mất việc làm, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ và gia đình. Việc đi lại, sản xuất, kinh doanh của nhiều người dân ở khu vực có tuần hành, bạo động cũng bị ảnh hưởng.

Thứ ba, nhà nước phải tốn nhiều chi phí để hỗ trợ công nhân và các doanh nghiệp bị thiệt hại, thất thu thuế do nhiều doanh nghiệp ngưng hoạt động… Qua vụ việc này, uy tín về bảo đảm an ninh, về xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh ít nhiều bị ảnh hưởng dưới mắt một số nhà đầu tư nước ngoài. Hình ảnh thân thiện, hòa bình của Việt Nam cũng bị giảm sút trong nhìn nhận của khách nước ngoài...

Hiện nay, Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của nước ta tại bãi Tư Chính, khu vực hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đảng và Nhà nước chỉ đạo các lực lượng chức năng của Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt, hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế để giải quyết vấn đề. Sự quan tâm của người dân đối với vụ việc này là rất rõ, qua đó thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc. Tuy nhiên, việc thể hiện tinh thần đó cần bằng những cách thức và thái độ phù hợp, cần hết sức bình tĩnh, kiềm chế, tránh thực hiện các hành vi, hoạt động có thể gây kích động hoặc lây lan các biểu hiện mất kiểm soát, dẫn đến càng làm trầm trọng thêm vấn đề. Người dân các ngành, các giới, trong nước cũng như ngoài nước, cần đoàn kết chặt chẽ với nhau, với các lực lượng chức năng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, để củng cố sức mạnh của đất nước, nhằm đấu tranh thắng lợi vụ việc này.

NGŨ YÊN

Theo Cờ đỏ Thành phố Hồ Chí Minh

                                                                 Duyệt đăng trên các Website của Quận

                                                                                  Ngày 20/8/2019

                                                                                 TRƯỞNG BAN

 

 

                                                                                Đặng Tấn Tuyên

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)