Nhận thức tư tưởng

Nhận thức tư tưởng (44)

10
Tháng 4

PHÒNG, CHỐNG THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Tóm tắt: Thông tin xấu, độc trên mạng xã hội gây tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần nhận diện thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, vạch trần những thủ đoạn của những đối tượng đưa thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, đề xuất các biện pháp chủ động phòng chống, góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.

  1. Mặt trái của mạng xã hội

Mạng xã hội là hệ thống những mối quan hệ giữa con người với nhau trên nền tảng internet với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào mạng xã hội gọi là cư dân mạng. Trên thế giới có hàng trăm mạng xã hội khác nhau. Các trang mạng xã hội phổ biến như Facebook, Youtube, WhatsApp, Skype, Qzone, Wechat, Instagram, Twitter, Flickr, Google Plus, Go.vn, Baidu Tieba. Ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều mạng xã hội, trong đó có một số mạng xã hội phổ biến, đó là Facebook, Zalo, Youtube, Twitter, Instagram, Google Plus, Go.vn, Tinhte…

Internet và mạng xã hội mang lại nhiều giá trị tích cực như: cho phép tìm kiếm thông tin dễ dàng; gặp gỡ, giao lưu, gắn kết cộng đồng, trao nhận, chia sẻ tình cảm; tìm kiếm việc làm, quảng cáo, kinh doanh và giải trí. Sự xuất hiện của mạng xã hội đã tạo ra những giá trị mới, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển giáo dục – đào tạo và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Tuy nhiên, mạng xã hội cũng ẩn chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người dùng nếu thiếu cảnh giác. Người dùng mạng xã hội có thể bị xâm phạm đời tư khi đăng nhập một tài khoản e-mail, khi trò chuyện, gửi thư, ảnh hoặc tài liệu. Có nguy cơ lừa đảo về kinh tế, mất an toàn cho cá nhân và gia đình. Dễ bị đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội như trộm cắp, chiếm đoạt tài sản, bắt cóc tống tiền. Quá trình sử dụng mạng xã hội, nếu người dùng chủ quan, đơn giản sẽ bị mất định hướng, có thể dẫn tới vô tình hoặc cố ý tán phát những thông tin xấu, độc, làm lộ thông tin bí mật nhà nước, gây hại cho cộng đồng; thậm chí tiếp tay cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước.

  1. Nhận diện thông tin xấu, độc

Những thông tin sai trái, bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc sự thật, lẫn lộn đúng sai, thật giả, hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, thông tin chưa được kiểm chứng gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức; thông tin có những ngôn từ thô tục, nội dung phản cảm, soi mói, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục; kích động đồi trụy, bạo lực… được coi là thông tin xấu, độc.

Một số dạng thông tin xấu, độc hiện đang lưu hành trên mạng xã hội nước ta là: (1) Thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam, hòng phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng ta, phủ nhận những thành tựu của sự nghiệp đổi mới; (3) Xuyên tạc lịch sử dân tộc, nhất là lịch sử các cuộc kháng chiến, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; (4) Xuyên tạc thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận công lao to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; Vu cáo, bôi nhọ, giả mạo các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh trong quân đội; (5) Kích động xu hướng ly khai, phá hoại, sự thống nhất quốc gia, dân tộc, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; (6) Truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực và thù hận (hate speech) đối với cá nhân và tổ chức; (7) Phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây; (8) Lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu, phát tán virus…

Thủ đoạn thông tin xấu, độc trên mạng xã hội rất đa dạng, tinh vi. Các đối tượng xấu thường núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”… để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm, cương lĩnh, nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”. Lợi dụng một số cá nhân thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hoặc có tham vọng chính trị cao, thành lập các hội, fanpage… làm cơ quan ngôn luận, địa chỉ hoạt động cho tổ chức “dân chủ” trên mạng. Lợi dụng mạng xã hội phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu, độc, phản động, từ đó kích động hình thành các hoạt động như tuần hành, biểu tình, rải truyền đơn, tụ tập kêu gọi chống đối cán bộ địa phương, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và nhân dân.

Các đối tượng tung tin thường sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang mạng xã hội (Facebook), Zalo (các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại), truyền thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, Myspace… để đưa thông tin xấu độc. Cách thức tiến hành của chúng thường là tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo sự khách quan, sau đó cài dần các thông tin xấu, độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, luận điệu sai trái. Người dùng truy cập thông qua đường dẫn (link) của bạn bè trên mạng xã hội dễ dàng “mắc mưu”, bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin xấu, độc đó. Thực tế cho thấy, đã có những người do nhẹ dạ, cả tin, thiếu bản lĩnh chính trị nên đã tin theo những luận điệu của các thế lực thù địch, từ đó bị chúng dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo và khống chế để làm việc phục vụ cho mưu đồ của chúng.

Một thủ đoạn khác mà các đối tượng thù địch sử dụng là thiết lập trang mạng mạo danh tổ chức hoặc cá nhân, đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm tạo ra hình ảnh méo mó về đất nước và con người Việt Nam, về các tổ chức và cá nhân. Các đối tượng xấu cũng lợi dụng những yếu kém trong công tác quản lý, công tác cán bộ, những sai phạm của một số tổ chức, cá nhân để nói xấu, bôi nhọ, vu cáo, bịa đặt đối với Đảng, Nhà nước, gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

  1. Thực trạng và giải pháp phòng, chống

(…)

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Làm rõ âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, của các đối tượng xấu trên Internet và mạng xã hội; những vấn đề, sự kiện mà chúng lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin xấu, độc. Tổ chức trao đổi và làm rõ về thông tin xấu độc để mọi người nâng cao nhận thức, nhận diện được thông tin xấu, độc, có ý thức tự phòng vệ và ý thức ngăn chặn, phòng chống, đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc.

Hai là, tăng cường quản lý, nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Không để xảy ra hiện tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng bị kẻ địch móc nối, lôi kéo. Thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý tài liệu, không để các ấn phẩm văn hóa độc hại, tài liệu phản động lọt vào, trang bị phương pháp tiếp cận thông tin trên mạng xã hội một cách khoa học và đúng đắn.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần sâu sát, nắm vững mọi hoạt động và tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là khi những luồng quan điểm thù địch, chống đối “mới” xuất hiện, những biểu hiện lệch chuẩn trong nhận thức chính trị; đồng thời thường xuyên tìm hiểu, nắm bắt tình hình hoạt động của các đối tượng xấu, có nội dung giáo dục, định hướng, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kịp thời. Các cơ quan quản lý phải có trách nhiệm trong quản lý thông tin có liên quan tới cán bộ, đảng viên, quần chúng nơi mình quản lý trên mạng xã hội. Yêu cầu cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị mình quản lý lên tiếng khi tài khoản cá nhân (Facebook, Zalo…) bị hack hoặc bị giả mạo, để tránh bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, bôi nhọ, vu khống, hoặc bị lợi dụng phát tán thông tin xấu, độc cho người thân, bạn bè và cộng đồng mạng.

Ba là, quản lý chặt chẽ thông tin trên Internet và mạng xã hội trên cơ sở luật pháp và các điều ước quốc tế. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về sử dụng Internet và mạng xã hội, đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng và minh bạch, tạo ra khung pháp lý nhằm răn đe, xử lý cá nhân, tổ chức đưa tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội. Hình thành các cơ quan kiểm soát và chống tin giả trên mạng và hợp tác với các nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Bốn là, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận diện, tự phòng chống các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống một cách đầy đủ, toàn diện. Đồng thời, chỉ rõ những thủ đoạn, tính chất nguy hại của thông tin xấu độc đối với xã hội; trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu, độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội.

Năm là, chủ động ngăn ngừa, giảm thiểu tiếp xúc của cán bộ, đảng viên và nhân dân với các nguồn thông tin xấu, độc, đồng thời tích cực đấu tranh với những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch.

Việc ngăn ngừa, giảm thiểu sự tiếp xúc đối với những thông tin xấu, độc là hết sức cần thiết, nhất là đối với những người trẻ tuổi, bản lĩnh chính trị còn chưa vững vàng, khả năng miễn dịch còn thấp. Để thực hiện điều này, mọi người không nên nghe, đọc, xem những đài, báo, trang mạng, bài viết, blogs, video của những phần tử chống đối, phản động.

Như vậy, tham gia mạng xã hội là nhu cầu thiết yếu của đời sống trong thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, các đối tượng xấu đang triệt để lợi dụng để đưa những thông tin xấu, độc, nhằm tạo ra những suy nghĩ lệch lạc, mơ hồ, dao động, mất niềm tin trong nhân dân để chống phá Đảng, Nhà nước. Do vậy, việc nhận diện và đấu tranh phòng chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội không chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, của các cơ quan chức năng mà là việc làm cần thiết đối với mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội./.

(1) Cảnh giác trước thông tin xấu, độc trên mạng Internet, http://anninhthudo.vn

(2) Lừa tiền trên mạng xã hội, vì sao nhiều người mắc bẫy?, http://antg.cand.com.vn.

(3) Tổng thống Pháp tuyên chiến với thông tin giả mạo trên Internet, http://tuoitre.vn.

(4) Các số liệu thống kê về Internet ở Việt Nam năm 2017, http://www.dammio.com.

(5) Gần 36 triệu người Việt dùng di động truy cập mạng xã hội hàng ngày, http://viettimes.vn.

(6) Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

Trích đăng từ bài viết “Phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội” đăng trên tập chí Lý luận chính trị số 1 - 2018.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

10
Tháng 4

XỬ LÝ VI PHẠM TRONG BỔ NHIỆM CÁN BỘ: KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC, NÊU CAO TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU

Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong công tác cán bộ: cơ bản bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục trong tất cả các khâu, xây dựng được đội ngũ cán bộ tương xứng, ngang tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn, thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ “Việc đổi mới công tác cán bộ chưa có đột phá lớn. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ nhưng vẫn chưa có tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”. Kiểm soát quyền lực và nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu (NĐĐ) là những biện pháp thiết thực phòng ngừa vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ.

Thực tiễn minh chứng những khuyết điểm, vi phạm về bổ nhiệm cán bộ không những gây bức xúc trong nội bộ, để lại hậu quả khó lường mà còn gây dư luận xấu trong xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Điển hình, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) giai đoạn 2009 – 2015 thiếu kiểm tra, giám sát, buông lỏng để các đơn vị thành viên bổ nhiệm 27 trường hợp không có trong quy hoạch, có trường hợp không đủ tiêu chuẩn và chỉ đạo bổ nhiệm tám trường hợp thuộc PVN không có trong quy hoạch. Thậm chí 17 cán bộ, lãnh đạo đơn vị trực thuộc có vi phạm, khuyết điểm để các đơn vị hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều năm không bị xem xét, xử lý trách nhiệm mà vẫn được PVN điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, có trường hợp lên chức cao hơn. Hệ lụy là nhiều cán bộ trong đó có cả lãnh đạo chủ chốt của PVN vi phạm nghiêm trọng bị khai trừ Đảng và xử lý hình sự.

Cũng xuất phát từ thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, biểu hiện nể nang, Ban cán sự đảng Bộ Công thương nhiệm kỳ 2011 – 2016 tiếp nhận, điều động, bổ nhiệm Trịnh Xuân Thanh và một số cán bộ vi phạm nguyên tắc, quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn, điều kiện; đánh giá, quy hoạch cán bộ một số trường hợp không đúng nguyên tắc, quy trình; để Bí thư BCSĐ tự ý đề nghị phê duyệt bổ sung quy hoạch chức danh Thứ trưởng Công thương đối với Trịnh Xuân Thanh và một số trường hợp khác; thực hiện không đúng thẩm quyền khi đề nghị Tỉnh ủy Hậu Giang tạo điều kiện cho Trịnh Xuân Thanh tham gia BCH Đảng bộ tỉnh Hậu Giang. Tại Vĩnh Phúc, trong số 15 trường hợp Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2010 – 2015 quyết định bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định có tới ba trường hợp bổ nhiệm thiếu nhiều tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cục bộ, không bình thường.

Nhiều vi phạm nổi cộm được Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ rõ cũng cho thấy sự thiếu gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Với cương vị Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2010 – 2015, ông Ngô Văn Tuấn đã ưu ái, nâng đở không trong sáng đối với bà Trần Vũ Quỳnh Anh trong việc ra các quyết định về công tác cán bộ vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước như tiếp nhận, điều động bà Trần Trần Vũ Quỳnh Anh từ nhân viên hợp đồng ở đơn vị sự nghiệp về làm công chức chuyên môn; trong một thời gian rất ngắn bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng, Trưởng phòng, đề nghị quy hoạch chức danh Phó Giám đốc Sở. Vi phạm có hệ thống của ông Tuấn còn thể hiện qua việc ký quyết định trái thẩm quyền về tiêu chuẩn bổ nhiệm cán bộ, bổ nhiệm 29 trưởng, phó phòng chưa có trình độ trung cấp lý luận chính trị và 12 trong số 29 trường hợp chưa qua lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước; ký bổ nhiệm lần đầu đối với 55 trường hợp trưởng, phó phòng không có trong quy hoạch. Ông Lê Phước Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam nhiệm kỳ 2010 – 2015 cũng có biểu hiện ưu ái, vun vén cho gia đình trong quy hoạch, luân chuyển, điều động và quyết định bổ nhiệm con trai là Lê Phước Hoài Bảo giữ các chức vụ (Trưởng phòng của Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, Phó Chủ tịch UBND huyện Thăng Bình, Phó Giám đốc, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư) không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, vi phạm quy trình, thủ tục.

Đó chỉ là dẫn chứng điển hình trong nhiều sai phạm bổ nhiệm cán bộ và nguyên nhân chủ quan chiếm phần lớn. Một số nơi NĐĐ không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, để ban thường vụ phê duyệt quy hoạch và thường trực tỉnh ủy cho chủ trương bổ nhiệm cán bộ không đúng thẩm quyền dẫn đến lạm quyền, lộng quyền hoặc lợi dụng nguyên tắc này để áp đặt, thực hiện ý đồ cá nhân, ưu ái, nâng đở không trong sáng đối với một số trường hợp người thân, phe cách hoặc “mở đường” cho việc chạy chức, chạy quyền. Một số nơi, đơn vị tham mưu, giúp việc còn thực hiện chưa đúng chức năng, nhiệm vụ về công tác cán bộ cho cấp ủy, trong đó bổ nhiệm cán bộ chưa đúng quy định. Các tổ chức đảng chưa thực hiện nghiêm túc, hiệu quả quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Bộ Chính trị khóa X để cấp dưới sai phạm trong bổ nhiệm một số cán bộ.

Để ngăn ngừa, khắc phục những khuyết điểm, vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ trước hết đòi hỏi phải có cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm chặn đứng hành vi lạm quyền, lộng quyền và lợi dụng quyền lực, nhất là của một số NĐĐ và cán bộ tham mưu, giúp việc về công tác tổ chức cán bộ và xử lý nghiêm minh các trường hợp sai phạm, công bố công khai để góp phần cảnh báo, răn đe. Bên cạnh đó, xác định rõ thẩm quyền và chịu trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong công tác cán bộ trên cơ sở áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tất cả các khâu, nhất là bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Thực hiện nghiêm chế độ kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ, coi đây là khâu đột phá, từ đó đánh giá đúng, phát huy những kinh nghiệm tốt, uốn nắn sơ hở, thiếu sót; ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp có biểu hiện tha hóa quyền lực, lệch lạc, khuyết điểm trong bổ nhiệm cán bộ.

Đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung quy chế kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Bộ Chính trị khóa X cho sát hợp các quy định, quy trình về công tác cán bộ đã sửa đổi vừa qua và phù hợp thực tiễn gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn ở Trung ương và địa phương rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ cấp mình quản lý một cách đầy đủ, chặt chẽ, phù hợp; quy định rõ NĐĐ và người phụ trách công tác cán bộ khi chuyển công tác, trước khi nghỉ hưu phải báo cáo công việc liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ và có rà soát, kiểm tra, xem xét trách nhiệm nếu mắc sai lầm là những giải pháp thiết thực cần sớm thực thi. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, mở rộng việc thi tuyển và đối tượng thi tuyển cán bộ lãnh đạo quản lý gắn với coi trọng tiến cử và chịu trách nhiệm về người mình tiến cử…, bố trí ít nhất hai ứng viên cho một chức danh khi xem xét bỏ phiếu tín nhiệm bổ nhiệm cán bộ là hướng mở khả quan để lựa chọn được cán bộ lãnh đạo hội tụ đủ đức – tài.

Trích đăng từ bài viết “Xử lý vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ: Kiểm soát quyền lực, nêu cao trách nhiệm người đứng đầu” trong Báo Nhân dân (trang 8), số 249 tháng 01/2018 của đồng chí Cao Văn Thống - Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương .

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

10
Tháng 4

SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” NHỮNG VẤN ĐỀ NÓNG BỎNG TÍNH THỜI SỰ

Tháng 10-1947, trong căn lán nhỏ giữa núi rừng ATK Định Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên năm 1948. Từ đó đến nay, đã 70 năm nhưng Sửa đổi lối làm việc vẫn là văn kiện quan trọng, còn nguyên giá trị và tính thời sự về xây dựng Đảng, nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng, tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo của cán bộ cách mạng nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Ra đời cách đây đã 70 năm, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nóng bỏng tính thời sự. Những vấn đề đặt ra trong tác phẩm không chỉ cho thấy những dự báo, đánh giá và giải pháp sáng suốt của Người mà đó còn là những cơ sở, gợi ý bổ ích về phương pháp luận cho chúng ta trong việc chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng lãng phí hiện nay.

Không phải ngẫu nhiên mà giữa lúc nước sôi, lửa bỏng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dành thời gian, tâm sức cho ra đời tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Những gì thể hiện trong tác phẩm quan trọng này đã nói lên phương pháp tư duy sáng suốt của Người về thực tiễn cuộc cách mạng lúc đó để từ đó chỉ ra những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng.

Sửa đổi lối làm việc gồm 6 phần chính: Phê bình và sửa chữa; mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo và Chống thói ba hoa. Tác phẩm bao quát những vấn đề rộng lớn trong toàn bộ mối quan hệ và các nguyên tắc, phương pháp, cách thức làm việc của Đảng, Nhà nước và của cán bộ, đảng viên.

1. Tiếp nối tinh thần trong các bài nói, bài viết sau ngày nước nhà giành được độc lập, Sửa đổi lối làm việc của Bác thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm từ khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền với ba chứng bệnh rất nguy hiểm: Thứ nhất là khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan; thứ hai là khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi; thứ ba là khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa. Tự phê bình và phê bình là nội dung xuyên suốt trong các tác phẩm. Người đặt yêu cầu phải “sửa đổi lối làm việc của Đảng” để giữ vững “tư cách của đảng chân chính cách mạng”. Người khái quát tư cách của Đảng trong 12 điều cụ thể, phản ánh một cách cơ bản, dễ hiểu về bản chất, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động, các yêu cầu cơ bản của Đảng. Người khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Theo đó, “ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích khác”. Nguyên tắc của Đảng là xuất phát từ quần chúng, gắn bó chặt chẽ với quần chúng. Đảng phải chọn lọc những người trung thành, loại bỏ những kẻ “hủ hóa”, giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới, đoàn kết chặt chẽ. Người nhấn mạnh: “Đảng không che dấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”.

2. Sửa đổi lối làm việc là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến xây dựng Đảng về đạo đức trên cả hai phương diện: Tổ chức Đảng và cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên. Theo Người “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của cá nhân lại sau”. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng, là vấn đề cốt lõi của đạo đức, nhân cách của cán bộ, đảng viên.

Nói về trách nhiệm của đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ba điểm chính: Trọng lợi ích của Đảng hơn hết; rèn luyện đạo đức theo 5 tính tốt, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và giữ kỷ luật. Người yêu cầu đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Do không rèn luyện tốt, không thực hiện được “chí công vô tư”, nên cán bộ, đảng viên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” như: Tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, địa phương, kéo bè, kéo cánh… Đối với mỗi thứ bệnh mà người cán bộ, đảng viên mắc phải đều rất có hại, ảnh hưởng xấu đến chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ cách mạng, đến tư cách cán bộ, đến niềm tin của nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc sửa các khuyết điểm không khó, nếu có quyết tâm, nếu mỗi cán bộ, đảng viên “thật thà” “tự xét” mình và “xét đồng chí mình”, “thấy rõ những bệnh ấy” thì sẽ tìm cách chữa và chữa được.

Sửa đối lối làm việc cũng phê phán căn bệnh “kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông” là nguyên nhân gây ra căn bệnh chủ quan. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác tư tưởng, lý luận. Sửa đổi lối làm việc đã góp phần xốc lại đội ngũ cán bộ, đảng viên, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng về sửa chữa các sai lầm, khuyết điểm, đồng thời phát huy các ưu điểm để Đảng ngày càng phát triển, sự nghiệp cách mạng ngày càng thành công.

3. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra và giải quyết một cách khoa học vấn đề công tác cán bộ của Đảng, Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Người nêu lên năm điểm chính trong chính sách cán bộ là: Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ và phê bình cán bộ. Đối với từng yêu cầu, Người chỉ ra các khuyết điểm, hạn chế, phân tích nguyên nhân, tác hại của những khuyết điểm đó và đưa ra giải pháp khắc phục. Người chỉ ra khuyết điểm thường thấy là ham dùng người thân quen, thích nịnh, tránh người không hợp tính. Những khuyết điểm ấy sẽ để lại hậu quả nặng nề, vì vậy phải sửa bằng cách: “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, “khiến cho cán bộ có gan phụ trách” và “phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”.

Đối với công tác huấn luyện cán bộ, Người nhấn mạnh: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Người chỉ ra bốn phương diện cần huấn luyện cho cán bộ: Nghề nghiệp, chính trị, văn hóa và lý luận. Huấn luyện nghề nghiệp bao gồm: Điều tra, Nghiên cứu, Kinh nghiệm, Lịch sử và Khoa học. Huấn luyện chính trị tức là giáo dục về thời sự và chính sách, nâng cao nhận thức chính trị - xã hội. Huấn luyện văn hóa tức là giáo dục nâng cao trình độ kiến thức phổ thông, trình độ hiểu biết. Huấn luyện lý luận tức là giáo dục nhận thức về nền tảng tư tưởng, về kinh nghiệm cách mạng các nước để vận dụng ngay vào thực tế, giải quyết các nhiệm vụ cách mạng. Về bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải biết rõ cán bộ, cất nhắc một cách đúng đắn, khéo dùng cán bộ theo năng lực, bố trí cán bộ hợp lý, giúp đỡ, động viên và bảo vệ cán bộ.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh dành toàn bộ mục thứ 5 của tác phẩm Sửa đổi lối làm việc để trình bày về nội dung, phương pháp, phong cách và các kỹ năng lãnh đạo. Theo Người, lãnh đạo có ba khâu: Quyết định mọi vấn đề cho đúng; tổ chức sự thi hành cho đúng; kiểm soát cho đúng. Lãnh đạo đúng nghĩa là thực hiện đúng cả ba khâu công việc đó. Để quyết định đúng và tổ chức thi hành đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phải xuống cơ sở nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, bàn bạc với nhân dân, đúc kết thành đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện. Người đặc biệt coi trọng vai trò của công tác kiểm tra, giám sát. Trong Sửa đổi lối làm việc, Người nhấn mạnh, phải khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi. Qua kiểm soát mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu; mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan; và mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết của Đảng, Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra hai cách thức lãnh đạo căn bản mang lại hiệu quả cao: “Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng”. Đó là sự kết hợp đúng đắn giữa đường lối, chính sách chung với tình hình cụ thể, giữa cái chung và cái riêng; giữa vai trò của cán bộ lãnh đạo và vai trò của quần chúng nhân dân.

5. Về chống thói ba hoa, tức là sửa đổi cách nói, cách viết, Bác chỉ ra những điều cần tránh: Dài dòng, rỗng tuếch, khô khan, lúng túng, báo cáo lông bông, cẩu thả, “sáo cũ”. Khi viết, khi nói phải luôn luôn làm cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo. Bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Chưa điều tra, chưa nghiên cứu chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại. Người chỉ ra những cách thức hiệu quả để cán bộ, đảng viên sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, đồng thời nêu những cách làm việc, công tác một cách khoa học. Người cho rằng, phong cách làm việc khoa học nhất, hiệu quả nhất chính là dân chủ, gắn bó mật thiết với quần chúng. Đảng phải giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, lắng nghe ý kiến của dân chúng.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng 88 năm qua, Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không ngăn chặn, đẩy lùi sẽ là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

6. Trong sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua, Đảng ta luôn coi phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt. Coi công tác cán bộ là khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt. Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật về nguy cơ, thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, hai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII của Đảng đều nêu rõ: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Vì vậy, cả hai Nghị quyết của Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Gắn liền với hai Nghị quyết này là phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Hai Nghị quyết đều có cùng quan điểm chỉ đạo: Kết hợp giữa “xây” và “chống”. “Xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài. “Chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Có nghĩa là, vừa phải tập trung sức vào cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vừa phải đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo Bác.

“Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phục vụ nhân dân là yêu cầu cấp bách hiện nay. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI, XII của Đảng đã đạt được nhiều kết quả bước đầu. Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm thực sự không có “vùng cấm” đang góp phần tạo nên bước chuyển biến mới tích cực, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII ra đời từ yêu cầu của thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng và đề ra những nhóm giải pháp cấp bách phù hợp, là sự tiếp nối “Sửa đổi lối làm việc” phù hợp với tình hình hiện nay.

Trích đăng từ bài viết “Sửa đổi lối làm việc” – Những vấn đề nóng bỏng tính thời sự đăng trên tạp chí Nhân Quyền số 2 - 2018.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

01
Tháng 11

GIÁ TRỊ BỀN VỮNG VÀ TÍNH THỜI SỰ NÓNG HỔI CỦA “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”

 Tác phẩm ra đời đã 70 năm nhưng luôn là một trong những tài liệu quan trọng, có tính thời sự nóng hổi về xây dựng Đảng. Những chỉ dẫn cụ thể của Hồ Chí Minh trong tác phẩm về những căn bệnh của cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ rõ, được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nhận diện 27 biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tùy theo mức độ mà các cấp ủy đảng, chính quyền kiểm tra kết luận xử lý nghiêm minh, kiên quyết đưa ra khỏi đảng những cán bộ, đảng viên không còn xứng đáng.

Sửa đổi lối làm việc, người cán bộ rèn luyện cho mình phong cách dân chủ, khoa học và nói đi đôi với làm. Người cán bộ phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân, quan hệ tốt với dân, học hỏi dân. Mỗi cán bộ phải biết cách tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người, của tập thể để phấn đấu cho mục tiêu chung. Mà muốn được như vậy, phải tạo ra được một môi trường dân chủ thực sự trong nội bộ, có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng hăng hái đề ra sáng kiến. Song, phong cách dân chủ không có nghĩa là mạnh ai nấy làm mà phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, hay còn gọi là nguyên tắc “dân chủ tập trung”.

Sửa đổi lối làm việc, cán bộ cần có phong cách làm việc khoa học thể hiện từ ra quyết định, tới tổ chức thực hiện và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định. Cán bộ làm việc gì cũng phải có kế hoạch và có mục đích. Để có kế hoạch thực sự khoa học, người cán bộ phải xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp. Cán bộ phải biết chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi… Sức thuyết phục, sự lôi cuốn của cán bộ với cấp dưới, những người dưới quyền mình và với nhân dân còn ở phong cách “nói là phải làm”. Hiện nay, ở nhiều nơi, nhiều cán bộ nói chưa đi đôi với làm và còn đánh trống bỏ dùi… Nên cán bộ muốn tập hợp, phát huy trí tuệ tập thể phải “miệng nói tay làm, làm gương cho người khác”. Nói đi đôi với làm vừa là phong cách công tác, vừa là phương pháp tư tưởng hữu hiệu của người cán bộ.

Sửa đổi lối làm việc góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với Nhân dân, đổi mới phương thức và phong cách lãnh đạo, làm cho Đảng thật sự trở thành một đảng cầm quyền “là đạo đức, là văn minh” như mong muốn của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

                                                                                                  PGS,TS. PHẠM NGỌC ANH

                                                                Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Trích đăng từ cuốn “Tạp chí Lý Xây Đựng Đảng” số 10-2017; đồng thời dùng làm Tài liệu sinh hoạt chính trị - tư tưởng tháng 11 năm 2017.

            Duyệt đăng trên chuyên mục CT05-CT/TW các Website của Quận

                                                          TRƯỞNG BAN

 

01
Tháng 11

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ

Bất kỳ việc to việc nhỏ: Phải xem xét cho kỹ lưỡng. Phải bàn bạc kỹ lưỡng. Phải hỏi dân kỹ lưỡng. Phải giải thích kỹ lưỡng cho dân. Phải luôn luôn gần gũi dân.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 6, tr.5.

Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành. Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.698-699.

Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng, để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải làm gương mẫu, đi sát với quần chúng, việc tuyên truyền, cổ động, đôn đốc, kiểm tra, thưởng phạt phải đúng mực.

Sđd, tập 7, tr.86.

Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước… Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích.

Sđd, tập 5, tr.108.

Cán bộ cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, cùng bàn bạc công việc với quần chúng, thì khó khăn gì cũng khắc phục được, kế hoạch gì cũng hoàn thành tốt.

Sđd, tập 10, tr.216.

Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai.

Sđd, tập 5, tr.104.

Khi đặt kế hoạch phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào phải làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo, thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch.

Sđd, tập 11, tr.267.

Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đảng.

Sđd, tập 5, tr.208.

Trích đăng từ cuốn “Tạp chí Lý Xây Đựng Đảng” số 10-2017; đồng thời dùng làm Tài liệu sinh hoạt chính trị - tư tưởng tháng 11 năm 2017.

                   Duyệt đăng trên chuyên mục CT05-CT/TW các Website của Quận

                                                          TRƯỞNG BAN

01
Tháng 11

“LÒ ĐÃ NÓNG LÊN RỒI THÌ CỦI TƯƠI VÀO ĐÂY CŨNG PHẢI CHÁY”

Sáng 31/7/2017, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng tổ chức phiên họp thứ 12 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo. Đánh giá về công tác phòng chống tham nhũng thời gian qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian qua đã thành phong trào, thành một xu thế của cả xã hội. Khi tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư đã nói: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy. Củi khô, củi vừa vừa cháy trước, rồi cả lò nóng lên, tất cả các cơ quan vào cuộc, có ai đứng ngoài đâu. Và không thể đứng ngoài được. Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được, thế mới là thành công”.

Theo Tổng Bí thư, chống tham nhũng rõ đến đâu làm đến đấy, làm từng việc, hết việc này dẫn sang việc khác, làm việc trước tạo tiền đề cho việc sau, làm theo chương trình, kế hoạch, có bài bản, có phân công, có sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, có gì vướng mắc thì kịp thời họp tháo gỡ. Và một điều quan trọng nữa là huy động sức mạnh toàn dân của cả hệ thống chính trị, nhân dân đồng tình, báo chí vào cuộc, công khai như vừa qua là rất có tác dụng, trở thành phong trào, thành xu thế của xã hội.

Tổng Bí thư dẫn câu nói của Lênin: “Tính công khai là thanh bảo kiếm chữa lành những vết thương”. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng chỉ đạo, báo chí cần thông tin đúng, góp phần thúc đẩy công tác phòng, chống tham nhũng đồng thời đấu tranh phản bác những thông tin sai lệch, xuyên tạc, không xây dựng. Tổng Bí thư chỉ rõ, sắp tới, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng phải tiếp tục được tăng cường, quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, không có trở ngại nào, sức ép nào.

Có thể nói, chưa bao giờ công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lại quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả như hiện nay. Có được điều này chính là bởi sự chuẩn bị kỹ càng, có bài bản, có chiến lược, chiến thuật rất cụ thể. Những thành quả trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta vừa qua rõ rãng là những tín hiệu vui, nó cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng đang thật sự được thực hiện một cách quyết tâm và quyết liệt. Vì thế mà niềm tin của nhân dân, của cả xã hội về một tương lai đất nước trong sạch, vững mạnh đang trở nên mạnh mẽ hơn.

 

ĐẢNG KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH

CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ

Hơn 70 năm lãnh đạo xây dựng nhà nước mới, 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước cách mạng, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Nghị quyết hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã cụ thể hóa quyết tâm chính trị của Đảng, đấu tranh quyết liệt chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, quyết tâm xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, khắc phục nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là “xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã về hưu”. Ban chỉ đạo Trung ương về chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu đã quyết liệt chỉ đạo, điều tra hàng loạt vụ án lớn. Hơn mười dự án thất thoát “nghìn tỷ” từng bước bị điều tra và đưa ra pháp luật, nhiều cán bộ cấp cao bị cách chức. Cuộc chiến chống tham nhũng đã có những bước tiến mới, như “lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy”.

Cùng với tham nhũng, lãng phí hiện nay đã trở thành quốc nạn. Báo cáo của Quốc hội tại hội nghị toàn quốc về chống tham nhũng, lãng phí cho biết, tiền quà biếu của 663 đơn vị lên tới 4.000 nghìn tỷ đồng; xe công thừa hàng trăm chiếc, chưa kể nhiều cán bộ sử dụng xe vượt tiêu chuẩn… Nghiêm trọng hơn cả là lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Báo cáo của Chính phủ nêu rõ, có tới hàng nghìn dự án huy động hàng chục nghìn hecta đất nhưng chỉ có khoảng 1/3 số đất đó được sử dụng. Đất đai thu hồi không sử dụng, lãng phí tài nguyên, tốn kém công của gây ra tác động tiêu cực xã hội rất lớn. Trên diễn đàn Quốc hội, nhiều ý kiến nêu rõ, đầu tư dàn trải gây ra lãng phí lớn. Hàng nghìn tỷ đồng quà biếu, hàng chục ngàn hecta đất, hàng trăm triệu USD từ các dự án treo, chậm tiến độ tuy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng lãng phí hiện nay ở nước ta, nhưng đã cho thấy tính chất cực kỳ nghiêm trọng về sự lợi dụng chức vụ của một số cán bộ, công chức gây ra những thất thoát lớn về của cải Nhà nước và Nhân dân.

Những lãng phí ấy không có cơ quan, đơn vị hay cá nhân nào chịu trách nhiệm. Người ta đổ lỗi cho cơ chế, biện bạch về sự bất cập, không đồng bộ hoặc yếu kém của bộ máy hay do mặt trái của kinh tế thị trường. Thực tế cho thấy lãng phí chủ yếu xảy ra ở các các quan, đơn vị của hệ thống chính trị và thành phần kinh tế nhà nước, nguyên nhân là một số cán bộ, công chức lợi dụng chức quyền, lạm quyền và lộng quyền gây ra. Mặc dù Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, nhà nước có luật pháp về tiết kiệm, chống lãng phí nhưng việc thực thi không thu được kết quả bao nhiêu, tệ lãng phí với tham nhũng ngày càng phát triển, gây hậu quả xấu nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân và là nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do đó, chống tham nhũng, lãng phí, thiết nghĩ phải làm từ cán bộ, công chức, đảng viên, những người có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Các giải pháp về cơ chế, chính sách phải đồng bộ, khả thi gắn liền với việc tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật nghiêm minh.

Vấn đề có ý nghĩa đối với chống tham nhũng, lãng phí hiện nay là thực hiện ráo riết Quy chế dân chủ ở cơ sở theo hướng công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, nhất là những công việc dễ nảy sinh tiêu cực, lãng phí. Nêu cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy trong việc phát huy vai trò tổ chức Đảng, đảng viên thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị mình, góp phần hạn chế, giảm sự lộng quyền ở một số người lợi dụng quyền hành để lãng phí, tiêu cực. Củng cố, kiện toàn tổ chức thanh tra nhân dân, tăng cường công tác kiểm tra sinh hoạt Đảng của cấp trên đối với tổ chức cơ sở Đảng. Nêu gương tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên dũng cảm và đấu tranh chống lãng phí. Trong xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử nhằm đảm bảo sự liêm chính của đảng viên, cán bộ, công chức cần chú ý nội dung về quyền và nghĩa vụ đối với từng loại chức danh để phòng chống lợi dụng chức vụ, quyền lực dẫn đến lạm quyền, lộng quyền. Việc lợi dụng quyền lực dẫn đến lãng phí cần được xác định đúng tội danh; người, tổ chức gây ra lãng phí phải bị xử lý nghiêm minh đồng thời công khai việc xử lý để mọi tầng lớp Nhân dân biết, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước…

Trích đăng từ bài viết “Đấu tranh chống tham nhũng - vấn đề sống còn của Đảng” trong Tạp chí Nhân quyền Việt Nam, số 9/2017.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

01
Tháng 11

QUYẾT TÂM XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ LIÊM CHÍNH TRONG THỜI ĐẠI MỚI

“Liêm” tức là trong sạch, “chính” nghĩa là thẳng thắn. Việc xây dựng một chính phủ liêm chính chính là xây dựng một bộ máy hành pháp trong sạch, minh bạch, công khai. Biểu hiện của nó là không tham nhũng, không quan liêu, tham quyền, cố vị, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng chính quyền gần dân trên cơ sở cải cách thủ tục hành chính công và thái độ phục vụ Nhân dân của bộ máy công bộc…

Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta bắt đầu bộc lộ nhiều điểm yếu và trở thành những rào cản ngáng trở sự phát triển. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là sự chậm chạp trong quá trình hoàn thiện thể chế hướng tới mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi hơn cho môi trường đầu tư của mọi thành phần trong xã hội. Sự chậm trễ đó cơ bản là do hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh, bộ máy tổ chức hành chính còn chưa thoát ra khỏi tư duy “quản lý, kiểm soát” thay vì phải là tư duy “quản trị, kiến tạo” sự phát triển. Với một bộ máy quản lý chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, không minh bạch về giới hạn và một thể chế hành chính cồng kềnh, quan liêu tạo tiền đề cho nhiều người lợi dụng chức quyền và trốn tránh trách nhiệm dễ dàng trong công vụ là sức cản rất lớn ảnh hưởng không tốt đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức suy thoái, biến chất về đạo đức. Những vụ án tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước, báo chí phanh phui trong thời gian gần đây là thách thức to lớn đối với quyết tâm xây dựng chính phủ liêm chính. Trong khi đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận lớn cán bộ, công chức không xứng tầm nhiệm vụ. Nhiều việc, nhất là những việc liên quan đến thủ tục hành chính và quyền lợi của người dân giải quyết chậm; khả năng xử lý xung đột, trình độ giao tiếp, nhất là giao tiếp quốc tế kém; trình độ tiếp thu công nghệ mới và vận dụng vào thực tế rất yếu, bằng cấp nhiều mà ít sáng tạo, ít phát minh…

Bản chất của Nhà nước ta, ngay từ những ngày đầu tiên đã được khẳng định là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhiệm kỳ 2016 - 2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc luôn nhấn mạnh xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo, kiên quyết chống tham nhũng, hướng về Nhân dân, tạo điều kiện cho Nhân dân làm giàu và mưu cầu hạnh phúc, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết. Muốn đạt được mục tiêu này, trước hết Chính phủ cần cải cách chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức. Cần thay đổi tận gốc cơ chế tuyển chọn cán bộ để có một đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự, đề cao vai trò giám sát của xã hội để làm tốt công tác này. Những chuyện xảy ra vừa qua như ô nhiễm môi trường biển, hiệu quả đầu tư kém… có nguyên nhân rất lớn từ năng lực yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện việc đánh giá cán bộ nghiêm túc, công bằng để loại những ai không liêm chính ra khỏi bộ máy, để cán bộ có năng lực yên tâm làm việc, không bị trù dập. 

Yêu cầu đặt ra trong thời gian này là quyết liệt thực hiện cải cách hành chính, cải cách xuất phát từ dân và vì dân. Từ thực tiễn đó xây dựng các chương trình hoạt động công vụ gắn với mục tiêu bảo đảm tinh thần làm việc văn minh, dân chủ và cởi mở, thượng tôn pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Chuyển dần từ nền hành chính cai trị sang quản trị, kiến tạo. Rà soát, sắp xếp lại quy trình, thủ tục hành chính giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành mang tính đồng bộ, đồng thời nâng cao năng lực, trình độ nhận thức, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng môi trường dịch vụ hành chính công mang tính phục vụ thông qua đơn giản hóa và công khai thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục không cần thiết, xử lý nghiêm những cán bộ thoái hóa biến chất, gây sách nhiễu cho người dân. Chính phủ điều phối hoạt động công vụ thông qua công tác xây dựng thể chế, chính sách, tạo môi trường cho đầu tư kinh doanh phát triển, tạo công ăn việc làm, phát huy sức sáng tạo, tăng thu nhập cho người dân, tăng năng suất lao động, bảo vệ môi trường, tạo công bằng xã hội. Cùng với việc thiết kế thể chế, chính sách, Chính phủ hành động nhanh, chính xác, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Việc bảo đảm và tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý hành chính hết sức quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phòng, ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí. Chính phủ điện tử đã công khai và minh bạch toàn diện hoạt động công vụ của mình song người dân chưa có đủ điều kiện tiếp cận do khó truy cập, thông tin chưa bắt kịp tính thời sự của đời sống. Vấn đề cấp thiết hiện nay là xác định rõ danh mục bí mật của các bộ, ngành, địa phương, trên cơ sở đó hạn chế tình trạng phổ biến hiện nay là cán bộ, ngành, địa phương thường lấy lý do thuộc danh mục bí mật Nhà nước để từ chối cung cấp thông tin cho người dân…

Đất nước đang đứng trước những thách thức to lớn khi hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Việc quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, nói không với tham nhũng là một quan điểm hết sức đúng đắn để củng cố niềm tin của Nhân dân. Tăng trưởng kinh tế đã khó nhưng tăng trưởng niềm tin của Nhân dân còn khó hơn. Thước đo sự liêm chính của Chính phủ chính là hiệu quả phục vụ Nhân dân, là lòng tin của Nhân dân! Nếu đội ngũ công chức hiện nay thực hiện đúng như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sẽ xây dựng được Chính phủ liêm chính, vì thế sẽ có được lòng dân, đem được lợi ích thiết thực cho Nhân dân.

Nguyễn Hồng Liên

Trích đăng từ bài viết “Kế thừa tư tưởng Chính phủ liêm chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Liêm chính để được lòng dân” trong Tạp chí Nhân quyền Việt Nam, số 9/2017.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

28
Tháng 9

TRÍCH MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM THEO NGHỊ ĐỊNH 178/2013/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 11 NĂM 2013 CỦA CHÍNH PHỦ

Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện. Các cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm không thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 178/2013/NĐ-CP của Chính Phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, cụ thể đối với từng hành vi vi phạm sẽ được xử phạt như sau:

1. Đối với các vi phạm quy định về thủ tục hành chính trong sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm:

Vi phạm quy định về tiêu chuẩn sức khỏe và tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

- Có thực hiện khám sức khỏe định kỳ theo quy định nhưng không thực hiện đầy đủ các xét nghiệm theo đúng quy định hoặc giấy khám đã hết hiệu lực. Mức phạt từ 300.000 đến 500.000 đồng đối với vi phạm dưới 10 người (Khoản 1, Điều 10).

- Không thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên thuộc diện phải khám sức khỏe định kỳ. Mức phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với vi phạm dưới 10 người (Khoản 2, Điều 10).

- Không có giấy xác nhận tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. Mức phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với vi phạm dưới 10 người (Khoản 2, Điều 11).

Xử phạt đối với hành vi sản xuất, kinh doanh, bảo quản thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống vi phạm quy định về giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm:

- Sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đã hết thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng. Mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. (Điểm b khoản 2 Điều 24).  

- Không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định hoặc có nhưng đã hết thời hạn trên 03 tháng. Mức phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng (Điểm c, Khoản 2, Điều 24).

 

2. Đối với các vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thủy sản: Phạt tiền 300.000 đến 100.000.000 đối với hành vi đưa tạp chất vào thủy sản, thu gom, sơ chế, bảo quản, chế biến, kinh doanh thủy sản có tạp chất (Khoản 5, Điều 16).

3. Đối với vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật tươi sống sử dụng làm thực phẩm:

- Phạt tiền bằng 100% đến 120% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với một trong các hành vi sau đây: Kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc động vật trên cạn bị ôi thiu, biến đổi màu sắc, mùi vị; Kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc động vật trên cạn bị đưa thêm tạp chất nhưng chưa ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm (Khoản 2, Điều 17).

- Phạt tiền bằng 120% đến 150% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi kinh doanh sản phẩm động vật tươi sống bị nhiễm khuẩn hoặc có chất tồn dư quá giới hạn cho phép (Khoản 3, Điều 17).

4. Đối với vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thực vật:

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thực vật vi phạm một trong các điều kiện về bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định (Khoản 1, Điều 18).

 - Phạt tiền bằng 40% đến 60% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thực vật có một trong các chỉ tiêu vượt quá giới hạn an toàn thực phẩm theo quy định (Khoản 2, Điều 18).

- Phạt tiền bằng 60% đến 80% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi sản xuất thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thực vật có sử dụng các hóa chất, chế phẩm không có trong danh mục được phép sử dụng trong trồng trọt (Khoản 3, Điều 18).

 

- Phạt tiền bằng 80% đến 100% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thực vật có hóa chất cấm sử dụng trong trồng trọt (Khoản 4, Điều 18).

5. Đối với vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến:

-  Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây trong kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến không bao gói sẵn: Không có biện pháp để bảo đảm cho thực phẩm không bị hỏng, mốc, tiếp xúc với côn trùng, động vật, bụi bẩn và các yếu tố gây ô nhiễm khác; Không có thông tin về xuất xứ và ngày sản xuất của thực phẩm (Khoản 1, Điều 19).

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây trong kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn: Không tuân thủ các điều kiện về bảo đảm an toàn đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm, điều kiện về bảo đảm an toàn thực phẩm trong bảo quản thực phẩm theo quy định; Không bảo đảm và duy trì vệ sinh nơi kinh doanh; Không bảo quản thực phẩm theo đúng hướng dẫn của cá nhân, tổ chức sản xuất (Khoản 2, Điều 19).

 

6. Đối với vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống thuộc loại hình cửa hàng ăn uống, cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín:

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Bày bán thức ăn ngay, thực phẩm chín không có thiết bị bảo quản hợp vệ sinh, không có bàn hoặc giá cao hơn mặt đất theo quy định; Không để riêng thực phẩm sống và thức ăn chín; Sử dụng khu vực chế biến, bảo quản, nơi ăn không bảo đảm vệ sinh hoặc có côn trùng, động vật gây hại; Sử dụng dụng cụ chia, chứa đựng thức ăn và dụng cụ ăn uống không bảo đảm vệ sinh; Không có dụng cụ chứa đựng rác thải, chất thải theo quy định hoặc có nhưng không bảo đảm vệ sinh; không thu dọn chất thải, rác thải hàng ngày (Khoản 1, Điều 20).

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Sử dụng nước không đạt quy chuẩn kỹ thuật để chế biến thực phẩm; Sử dụng nguyên liệu không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, không bảo đảm an toàn để chế biến thực phẩm; Sử dụng phụ gia thực phẩm không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, không có trong danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng theo quy định, không bảo đảm an toàn để chế biến thực phẩm; Chế biến thực phẩm không bảo đảm an toàn; Kinh doanh dịch vụ ăn uống không bảo đảm an toàn thực phẩm dẫn đến ngộ độc thực phẩm (Khoản 2, Điều 20).

 

 

BAN QUẢN LÝ CHỢ HOÀNG HOA THÁM

 

MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM THEO

LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

1. Giải thích một số từ ngữ (Điều 2)

An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người.

Kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm.

Sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm.

Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến.

Thực phẩm bao gói sẵn là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay.

2. Trách nhiệm người sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Điều 3)

Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh.

3. Những hành vi bị cấm (Điều 5)

Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm.

Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.

Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Sản xuất, kinh doanh:

a) Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;

b) Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;

c) Thực phẩm bị biến chất;

d) Thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép;

đ) Thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm;

e) Thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu;

g) Thực phẩm không được phép sản xuất, kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh;

h) Thực phẩm chưa được đăng ký bản công bố hợp quy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thực phẩm đó thuộc diện phải được đăng ký bản công bố hợp quy;

i) Thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng.

Sử dụng phương tiện gây ô nhiễm thực phẩm, phương tiện đã vận chuyển chất độc hại chưa được tẩy rửa sạch để vận chuyển nguyên liệu thực phẩm, thực phẩm.

Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả kiểm nghiệm thực phẩm.

Che dấu, làm sai lệch, xóa bỏ hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc các hành vi cố ý khác cản trở việc phát hiện, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm.

Người mắc bệnh truyền nhiễm tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.

Quảng cáo thực phẩm sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng.

Đăng tải, công bố thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm gây bức xúc cho xã hội hoặc thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh.

Sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè, hành lang, sân chung, lối đi chung, diện tích phụ chung để chế biến, sản xuất, kinh doanh thức ăn đường phố.

4. Nghĩa vụ tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm (Khoản 2, Điều 8)

Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh;

Kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm, nhãn thực phẩm và các tài liệu liên quan đến an toàn thực phẩm; lưu giữ hồ sơ về thực phẩm; thực hiện quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định tại Điều 54 của Luật này;

Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; thông báo cho người tiêu dùng điều kiện bảo đảm an toàn khi vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm;

Kịp thời cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của thực phẩm và cách phòng ngừa cho người tiêu dùng khi nhận được thông tin cảnh báo của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu;

Kịp thời ngừng kinh doanh, thông tin cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và người tiêu dùng khi phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn;

Báo cáo ngay với cơ quan có thẩm quyền và khắc phục ngay hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm hoặc bệnh truyền qua thực phẩm do mình kinh doanh gây ra;

Hợp tác với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra ngộ độc thực phẩm để khắc phục hậu quả, thu hồi hoặc xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;

Tuân thủ quy định của pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Chi trả chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm theo quy định tại Điều 48 của Luật này;

Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra.

5. Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ (Điều 22)

 

Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm sau đây:

a) Có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm;

b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

c) Có trang thiết bị phù hợp để sản xuất, kinh doanh thực phẩm không gây độc hại, gây ô nhiễm cho thực phẩm;

d) Sử dụng nguyên liệu, hóa chất, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm;

đ) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

e) Thu gom, xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

h) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ thông tin liên quan đến việc mua bán bảo đảm truy xuất được nguồn gốc thực phẩm.

BAN QUẢN LÝ CHỢ HOÀNG HOA THÁM

27
Tháng 9

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tóm tắt: Theo Hồ Chí Minh, chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem là công việc thường xuyên, thiết thực làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh và liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thì ở nơi này, nơi khác, ở mức độ này, hay mức độ khác vẫn còn tồn tại, thậm chí có chiều hướng phát triển. Do vậy, phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục tinh thần đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã sớm cảnh báo về tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và với mỗi cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân và coi chủ nghĩa cá nhân như “một thứ vi trùng rất độc”, nó sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh. Trong bài “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người chỉ rõ: “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”. Sự phê phán đó của Người cho tới ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị, mang tính thời sự cao và có ý nghĩa giáo dục đạo đức, lối sống sâu sắc cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta, đặc biệt trong thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: Chủ nghĩa cá nhân nó nằm ngay trong lòng mỗi con người “ai cũng có một ít”, là kẻ thù bên trong, là giặc “nội xâm”; là kẻ thù “vô hình” nhưng lại biểu hiện trong tư tưởng, hành động của mỗi người. Có lúc Người cho đó là “địch nhân” ở trong lòng mà mỗi người phải chiến thắng “nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển”. Cho nên, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh nội tại giữa cái “thiện” và cái “ác”; giữa cái “đúng” và cái “sai”; giữa cái “tiến bộ” và cái “thoái bộ”. Người viết: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”, “làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”. Nên khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng. Do đó, thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, chính là giữ vững bản chất, sinh mệnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính. Rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng song hành với cuộc đấu tranh phòng, chống, tiến tới loại bỏ chủ nghĩa cá nhân bên trong mỗi người cán bộ, đảng viên. Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp, gian khổ, lâu dài bằng nhiều hình thức phong phú gắn với những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Hồ Chí Minh đã ví một cách hình ảnh “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng tốt lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”. Vì vậy chủ nghĩa cá nhân dù tồn tại dưới hình thức nào cũng đều phải quét sạch nhằm nâng cáo uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bên cạnh những thuận lợi, đang chịu sự chi phối từ những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa là điều kiện, là “mảnh đất màu mỡ” cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở, phát triển với những biểu hiện phức tạp, tinh vi. Trên thực tế, đa số cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước luôn luôn có phẩm chất chính trị tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức lối sống cách mạng trong sáng, lành mạnh, nhưng vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay có vị trí đặc biệt quan trọng trong xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, quần chúng Nhân dân đáp ứng với yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.

Để đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay mang lại hiệu quả cao phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới, phải nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân, đi từ thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên và phải coi đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Theo chúng tôi cần phải thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, kiên trì và đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên trong phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi trong bất kỳ giai đoạn nào, không được xem nhẹ công tác giáo dục trong Đảng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt là giáo dục về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, củng cố lập trường giai cấp công nhân. Nguyên nhân sâu xa của chủ nghĩa cá nhân là do quan điểm, lập trường giai cấp công nhân bị mờ nhạt. Vấn đề đạo đức, lối sống phải được xem xét trên lập trường của giai cấp công nhân. Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần phân tích, làm rõ tác hại của chủ nghĩa cá nhân đối với công việc, với dân, với nước. Nhằm xây dựng Đảng thực sự là Đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và Nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, chủ trì, đứng đầu các cơ quan Đảng, Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, luôn nêu cao tinh thần tiền phong, gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi để lôi cuốn được quần chúng học tập, noi theo nhằm bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có khả năng đề kháng tốt với chủ nghĩa cá nhân. Khi mà nội bộ Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh thì không còn chỗ cho chủ nghĩa cá nhân phát bệnh.

Ba là, củng cố chăm lo xây dựng các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh, đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp nhằm kiên quyết loại bỏ những con “sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền, tạo ra môi trường lành mạnh không để cho những cán bộ, đảng viên mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân có điều kiện phát tác.

 Bốn là, Đảng phải quan tâm, chăm lo lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân, của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tăng cường niêm tin của đội ngũ cán bộ, đảng viên vào sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Bởi đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện sẽ góp phần cổ vũ, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, đảng viên yên tâm phấn khởi, gắn bó với tập thể, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng chiến đấu đến cùng vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, qua đó phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên được ngăn chặn ngay từ mầm mống.

Năm là, phát huy, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong toàn xã hội để đoàn kết, động viên và phát huy hết tiềm năng trí tuệ, sự ủng hộ cả về tinh thần và vật chất của các tầng lớp Nhân dân vì sự nghiệp cách mạng. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của Nhân dân, vai trò giám sát của Nhân dân với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên.

Đồng thời, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức. Xây dựng quy chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả; phương pháp kiểm tra phải đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên nhằm mục đích phát hiện những sai lầm trong tư tưởng và hành động để kịp thời sửa chữa. Hồ Chí Minh nói: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp mắc chủ nghĩa cá nhân luôn chỉ lo chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương... Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý của mỗi tổ chức, cá nhân.

Đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả trong toàn Đảng nói chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng hiện nay là một tất yếu, nó diễn ra hết sức gay go, phức tạp, quyết liệt, đòi hỏi cán bộ, đảng viên trong Đảng phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân; nắm chắc tình hình và biểu hiện đa dạng của chủ nghĩa cá nhân và thực hiện chế độ đồng bộ các biện pháp đấu tranh, khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân gắn với thực hiện thắng lợi mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

      Thạc sĩ Nguyễn Trọng Tiến

Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

Trích đăng từ Tạp chí Giáo dục lý luận số 263, phát hành tháng 7 năm 2017.

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

21
Tháng 9

Giới thiệu chuyên mục: “An toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường”

An toàn thực phẩm là một vấn đề lớn, có tầm quan trọng đặc biệt và sống còn đối với sức khỏe của từng người dân và sự phát triển của đất nước, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các bộ phận liên quan nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm ở tất cả các khâu từ sản xuất, kinh doanh, chế biến đến tiêu dùng. Đặc biệt là trách nhiệm của người quản lý, người sản xuất, kinh doanh, người chăn nuôi, trồng trọt và nhận thức của người tiêu dùng. An toàn thực phẩm vẫn đang là vấn đề quan ngại, lo lắng cao độ của người dân do những hậu quả trước mắt gây ra cho sức khỏe của mọi người, gây bức xúc trong người tiêu dùng khi gặp phải những thực phẩm không an toàn.

Quận Tân Bình có vị trí phát triển kinh tế, dịch vụ, du lịch, thương mại với 2354 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, toàn quận có 14 chợ truyền thống, 15 siêu thị, 05 trung tâm thương mại. Mục tiêu phấn đấu của quận là từng bước và lâu dài chấm dứt tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc được sản xuất, kinh doanh, lưu thông và tiêu dùng trên địa bàn quận. Hằng năm Quận ủy - Ủy ban nhân dân quận ban hành nghị quyết, chương trình, kế hoạch, văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn quận. Riêng năm 2016, Ban thường vụ Quận ủy ban hành Kết luận số 12-KL/QU về tăng cường lãnh đạo đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn quận và ban hành Quyết định số 795-QĐ/QU thành lập Tổ chỉ đạo và kiểm tra công tác lãnh đạo, quản lý an toàn thực phẩm tại các đơn vị trên địa bàn, tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đồng thời trong quý I/2017 đã tiến hành ký kết chương trình phối hợp thực hiện giữa Ủy ban nhân dân quận và Ủy ban MTTQ quận, vận động và giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn quận giai đoạn 2016-2020. Qua đó trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn quận đã đạt được một số kết quả, hiệu quả nhất định, trên địa bàn quận chưa xảy ra ngộ độc thực phẩm. Trong 6 tháng đầu năm 2017 đã tiến hành kiểm tra 345 cơ sở, đạt 219 cơ sở, nhắc nhở 04 cơ sở; xử phạt vi phạm hành chính 31 cơ sở, với tổng số tiền 167.300.000 đồng, tịch thu tiêu hủy 369 kg thịt heo, 320 lít rượu, 228 chai siro, 32 hộp ca cao, 04 bao tải trà sữa, 72 gói trà xanh, 19 gói trà đỏ, 12 thùng bánh xốp, 134 lít nước màu dùng chế biến thực phẩm, 250kg bột ngọt không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Phối hợp lấy mẫu xét nghiệm 2.077 kg trái cây nhập khẩu các loại, đã chuyển cơ quan chức năng xử lý theo quy định.

Một số kết quả phối hợp của đơn vị và các cơ quan liên quan

1. Ngày 16/06/2016 tại địa chỉ số 356/1 Phạm Văn Bạch phường 15, quận Tân Bình, Đoàn kiểm tra liên ngành ATTP quận phối hợp Chi cục Thú y thành phố, kiểm tra, phát hiện ông Nguyễn Đa Vít đưa về 727kg thịt động vật đã tẩm ướp được chứa đựng trong các túi ni lông, ướp nước đá bảo quản trong 16 thùng xốp, lô hàng trên không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không giấy chứng nhận kiểm dịch, nền sàn nhà khu vực bảo quản dơ bẩn (căn cứ vào biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn  Đa Vít với Đoàn kiểm tra: thịt động vật tẩm ướp sẵn được mua với giá 140.000đồng/kg,  trị giá lô hàng là 101.180.000đồng ). Đoàn kiểm tra đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tịch thu tiêu hủy lô hàng theo quy định ( sau khi đã có kết quả xét nghiệm toàn bộ lô hàng 727kg thịt động vật nêu trên đều bị nhiễm khuẩn), chuyển cơ quan chức năng thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

2. Ngày 17/06/2016 Đoàn kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm quận, kiểm tra, phát hiện tại địa chỉ số 270B/23/22/5 Lý Thường Kiệt, phường 6, quận Tân Bình có lô hàng chứa 103 con heo sữa, tổng cân nặng là 972kg được chứa đựng trong các thùng xốp và 02 tủ đông, điều kiện bảo quản không đảm bảo, Bà Nguyễn Thị Hai là chủ lô hàng, không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, không xuất trình được giấy chứng nhận kiểm dịch. Đoàn kiểm tra đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tịch thu tiêu hủy lô hàng theo quy định (sau khi đã có kết quả xét nghiệm toàn bộ lô hàng 972kg thịt heo sữa nêu trên đều bị nhiễm khuẩn), tham mưu Ủy ban nhân dân quận ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định với tổng số tiền phạt là 28.500.000 đồng.

3. Vào lúc 09h30 ngày 07/11/2016 tại khu sạp C/07 chợ Phạm Văn Hai, phường 03, quận Tân Bình, Đoàn kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm quận phát hiện lô hàng thịt heo số lượng 1741 kg thịt heo không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chủ lô hàng là ông Đoàn Công Phúc. Qua kiểm tra thực tế, lô hàng thịt heo đã đổi màu, tím tái, bốc mùi hôi. Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, trình Ủy ban nhân dân quận ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ông Đoàn Công Phúc số tiền 15.000.000đ, đồng thời tịch thu, tiêu hủy lô hàng theo quy định.

 

Một số văn bản liên quan, mời quý đọc giả tham khảo:

 

 

Page 1 of 4