Nhận thức về Tư tưởng - Chính trị

Nhận thức về Tư tưởng - Chính trị (44)

Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới đạo đức, đạo đức cách mạng. Sự quan tâm đó nhất quán, xuyên suốt từ lúc Người ra đi tìm đường cứu nước cho đến tận cuối đời. Hồ Chí Minh cũng là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Thống kê di sản Hồ Chí Minh, có khoảng 50 bài nói và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức, đạo đức cách mạng, trong đó tác phẩm “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), số 12 năm 1958 dưới bút danh Trần Lực là một tác phẩm tiêu biểu. 60 năm đã đi qua, quan điểm: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng về đạo đức cách mạng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” được nêu trong tác phẩm còn vẹn nguyên giá trị, có ý nghĩa với lịch sử, hiện tại và tương lai.

Không phải ngẫu nhiên, ngay những trang đầu của tác phẩm Đường cách mệnh – tác phẩm “gối đầu giường” của những người cách mạng Việt Nam được xuất bản năm 1927, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giành những luận bàn đầu tiên về Tư cách một người cách mệnh, sau đó mới bàn về lý luận đường lối cách mạng, Người yêu cầu, người cách mạng phải cần, kiệm, giữ chủ nghĩa cho vững, phải biết hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất, không ngại gian khổ khó khăn, thậm chí hy sinh cả tính mạng của mình cho sự nghiệp chung. Người cách mạng phải rất khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, cả quyết sửa lỗi mình, cẩn thận mà không nhút nhát, nếu thấy việc đúng thì phải quyết tâm làm và phải chịu trách nhiệm trước việc mình làm. Quần chúng tin và làm theo cách mạng trước hết họ tâm phục đạo đức, gương hy sinh của người cách mạng.

Về sau này, trong các tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Đạo đức cách mạng (1955), Người cán bộ cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), Di chúc (1969)… Hồ Chí Minh đều phân tích và chỉ rõ, đạo đức là nguồn gốc nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông, suối. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”

Làm cách mạng là một việc lớn, một sự nghiệp vẻ vang nên càng phải có sức mạnh. Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Bởi vậy, Người yêu cầu: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính… Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không”.

Theo Hồ Chí Minh, có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Khi cần, thì sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Hồ Chí Minh nói: “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”.

Bên cạnh những kiến giải, vì sao “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng” được Hồ Chí Minh chỉ rõ trong các tác phẩm tiêu biểu nêu trên, qua nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy, Người thường nhắc tới các lý do cơ bản sau:

Một là, sự nghiệp giành, giữ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp cách mạng to lớn, rất khó khăn, chưa từng có trong lịch sử, để hoàn thành sự nghiệp to lớn, vĩ đại này, đòi hỏi sự lỗ lực, phấn đấu, không chỉ một mà cần đến nhiều thế hệ tận trung với nước, tận hiếu với dân đoàn kết, đồng sức, đồng lòng kiến tạo, dựng xây. “Chúng ta ta cần phải biết rằng: những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được mới chỉ là bước đầu trên đường đi muôn dặm. Chúng ta phải tiến lên, cách mạng phải tiến lên nữa. Nếu không tiến, tức là thoái. Và nếu thoái thì những thắng lợi đã đạt được sẽ không thể củng cố và phát triển”.

Hai là, kẻ thù của cách mạng Việt Nam là những tên phong kiến, thực dân đế quốc gian ác, với nhiều âm mưu xảo quyệt. Chúng ta không thể hy vọng, chông chờ vào lòng tốt, không xin giặc “rủ lòng thương” để có độc lập cho Tổ quốc và tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Để đạt được mục tiêu này, chỉ có thể thông qua con đường đấu tranh cách mạng, chiến đấu giành lấy với quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, trong đó, trước hết người cách mạng phải nêu cao đạo đức cách mạng. “Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh phải lâu dài và gian khổ. Cần có người cách mạng là vì còn có kẻ địch chống lại cách mạng”.

Ba là, bản chất chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng, khoa học và nhân văn. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin đòi hỏi mỗi người phải có quyết tâm cách mạng, tri thức khoa học, có cái tâm trong sáng, đạo đức cao đẹp. Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn không có tách rời nhau. Tính khoa học bao hàm trong nó tính cách mạng, bởi lẽ tính khoa học đòi hỏi phải chỉ ra được quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử. Tính khoa học triệt để còn đòi hỏi phải đấu tranh chống lại mọi lạc hậu, phản động, bảo thủ, chống lại áp bức, bất công, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Vì thế, tự bản thân nó càng toát lên tính nhân văn. Đồng thời, tính cách mạng trong chủ nghĩa Mác đã bao hàm trong nó có tính khoa học, tính nhân văn bởi để chống lại xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xây dựng con người mới thì phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, tức phải dựa vào khoa học.

Bốn là, lịch sử nhân loại đã nhiều lần chứng kiến những câu chuyện rất đau lòng, những phòng khí độc do các kiến trúc sư hàng đầu kiến tạo ra, trẻ em bị các bác sĩ có trình độ cao hạ độc, trẻ em sơ sinh bị các y tá được huấn luyện sát hại… trong các trại tập trung của Đức Quốc xã hồi đầu thập niên 1940… Điều này cho thấy, tài năng, trí thức càng nhiều mà đạo đức căn bản lại thiếu hoặc không có thì con người ta lại càng nguy hại đối với nhân loại và thiên nhiên. Hồ Chí Minh viết: “Có tài mà không có đức là hỏng… Đức phải có trước tài”. Ngày nay, nhân loại đề cao sự tôn trọng, trân quý sinh mệnh con người, mọi sự nghiệp giải phóng xét đến cùng đều vì con người nhằm giải phóng con người. Vì vậy, thực hành đạo đức hàng ngày, tu dưỡng đạo đức suốt đời là cần thiết, phải trở thành nhu cầu, mục đích, yêu cầu tự thân của mỗi người nói chung, và trở thành nguyên tắc xây dựng, thực hành đạo đức cách mạng của người cách mạng chân chính nói riêng.

Đạo đức cách mạng là yêu cầu quan trọng hàng đầu cần phải có, làm gốc để chúng ta hiện thực hóa quyết tâm, mục tiêu, lý tưởng của mình. Chúng ta đã cất công, đã gian khổ, hy sinh làm cách mạng thì quyết làm cách mạng triệt để, đến nơi nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

 Sau khi xác định rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên, cán bộ phải không ngừng tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng bao gồm Trung với nước, hếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; thương yêu con người, sống có tình nghĩa; có tinh thần quốc tế trong sáng. Giáo sư Trần Văn Giàu viết “Cho phép tôi hiểu rằng tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực hay là ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay lựa chọn mới lạ, mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật đang phải sống trên quả đất này và chắc còn phải sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi sự suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó; vì đó mà Cụ lớn”.

Đặc biệt, không chỉ phân tích và nêu rõ những yêu cầu phẩm chất của người cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu cần phải xây dựng đạo đức cho tổ chức tiền phong của giai cấp, của cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng Cộng sản trước hết phải là một đảng tiêu biểu cho đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.

Có thể khẳng định, trong số ít các lãnh tụ cộng sản trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ sớm đã tiên lượng, dự báo được xác đáng những nguy cơ, thách thức có thể xảy đến đối với một đảng cầm quyền, Đảng rất có thể lạm quyền, thậm chí chuyên quyền, độc đoán “nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Cán bộ từ làng cho đến Chính phủ Trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân”. Cán bộ trong công sở là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Họ “đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

“Lòng dạ”, Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây, có thể hiểu là đạo đức, lương tâm của Đảng nói chung, của người Cộng sản nói riêng. Một khi lòng dạ không còn trong sáng, tức là cái đức, cái tâm đã bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, bị vẩn đục, bị bôi đen, thì không thể giáo dục, lãnh đạo, dẫn dắt được quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh ân cần căn dặn đảng viên, cán bộ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Làm người lãnh đạo mà thiếu tư cách đạo đức, thiếu lương tâm trong sạch, lại còn “sa vào chủ nghĩa cá nhân” thì không những không được quần chúng tin yêu, mà còn bị họ xa lánh, ghét bỏ. Là người nắm giữ vị trí cao nhất của Đảng và Nhà nước, Người luôn sống và làm việc một cách giản dị, trở thành một tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân, thế giới ca ngợi không chỉ ở những việc lớn mà ngay từ những việc nhỏ, những việc nhỏ nhưng vô cùng vĩ đại, một con người vĩ đại từ những việc bình thường. Xin được dẫn lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi nhớ lại ấn tượng sâu sắc lần đầu tiên gặp Bác Hồ: “Khi gặp Bác, nay nhớ lại, tôi không thấy một vẻ gì lạ hoặc đặc biệt, như trước đây tôi hằng tưởng tượng, mà chỉ thấy, chỉ gặp một phong cách, một cảm tưởng trong sáng, giản dị mà cho mãi về sau này, trong công tác trực tiếp với Bác, cái phong cách trong sáng, giản dị ấy ở Bác, tôi vẫn giữ được một cảm giác nguyên như ngày mới gặp”. Và khi thời gian càng lùi xa, nghĩ suy về cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, về tấm gương đạo đức sáng ngời của Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm nhuần một lẽ: “Giản dị là điều khó nhất trên đời: đó là sự giới hạn tột cùng của sự từng trải và là lỗ lực cuối cùng của thiên tài”.

“Lên mặt làm quan cách mạng”, quan liêu, xa dân, mất lòng tin nơi quần chúng, nhân dân; tham ô, lãng phí, hủ hóa… là những nguy cơ và thách thức lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đã cảnh báo và yêu cầu đảng cộng sản cầm quyền phải nhận thức thấu đáo, phải có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, nếu không muốn vị thế của mình bị lung lay từ gốc rễ. Đảng cần tự thân chăm lo, xây dựng Đảng về đạo đức, đồng thời, Đảng cần phải chăm lo, giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo và bồi dưỡng họ thành những người xứng đáng kế thừa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bên cạnh đó, khi xác định “Đảng là đạo đức, là văn minh”, Hồ Chí Minh chỉ rõ cho chúng ta thấy tầm quan trọng của đạo đức đối với tổ chức, coi đó là đặc trưng, là yêu cầu, nhiệm vụ lớn trong xây dựng một chính đảng cách mạng. Bởi với Người: “… chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”. Như vậy, Hồ Chí Minh đã đưa yếu tố đạo đức vào trong chính trị, chính trị gắn liền với đạo đức và văn hóa.

Nhận thức sâu sắc được vai trò, ý nghĩa to lớn của tư tưởng đạo đức nói chung, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cách mạng nói riêng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 15/5/2016), làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần to lớn, vững chắc trong đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TW của ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII (ban hành ngày 30/10/2016) đã thẳng thắn chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm: Tư tưởng – chính trị, đạo đức – lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trở thành như là “tấm gương” để đảng viên, cán bộ tự soi vào, thẳng thắn nhìn nhận, sửa chữa; bền bỉ rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng.

Chúng ta trân trọng quá khứ, giữ gìn, bảo vệ những thắng lợi vẻ vang và những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam trong suốt 88 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về điều này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Mặc dù còn không ít khó khăn, thách thức nhưng chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ như ngày nay”. Giành được những chiến thắng vĩ đại, đạt được những thành tựu to lớn đó, đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu, chiến đấu, hy sinh… không chỉ một mà nhiều thế hệ những người cách mạng đã giữ vững đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, đoàn kết, thống nhất, sáng suốt lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta kiến tạo, xây dựng nhà nước. Ngày nay, được kế tục sự nghiệp to lớn này, chúng ta càng tin tưởng, tự hào, không “Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người” như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước và tin tưởng.

Phạm Tăng Tuấn**- Nguyễn Nam Thắng***

Trích đăng từ Tạp chí giáo dục lý luận (Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 01/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, cả trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TTVH) là một “mũi đột phá” và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Trong cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, R.Nixon đã xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!".

Thực hiện mũi tiến công trên lĩnh vực TTVH hiện nay, cùng với việc thực hiện những phương thức, thủ đoạn quen thuộc, các thế lực thù địch luôn quan tâm đổi mới cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện để cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của xã hội ta, nhằm đạt tới mục tiêu là xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong đó, chúng tập trung tiến công vào một số nội dung chủ yếu như:

Một là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: “Giải thể ý thức hệ cộng sản!". Chúng coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm chủ quan của Mác, đồng thời cho rằng, những người cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác, nên đã vận dụng một cách giáo điều, dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)! Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm!". Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học.

Hai là, tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại đều khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm! Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH!". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin!

Ba là, xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN; đồng thời, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản. Nhận rõ vai trò to lớn của văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, nhất là trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay; đồng thời, ra sức tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay.

Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ (VHVN) hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước, đối với VHVN, tìm cách lôi kéo các văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị “dân chủ”, “tự do” tư sản; làm tha hóa thế hệ trẻ bằng “văn hóa, tư tưởng, lối sống Mỹ”, nhằm tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển. Thông qua các quan hệ giao lưu văn hóa, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc, tán phát trên internet có nội dung phản động, đồi trụy. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta.

Bốn là, sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa TTVH, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam. Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các tờ báo và tạp chí tiếng Việt, các nhà xuất bản ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá ta trên mặt trận TTVH. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển hóa TTVH, thực hành “diễn biến hòa bình” đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với “giá rẻ”, mà hiệu quả đạt được lại cao, “một đô la cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng".

Để góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững trận địa tư tưởng vô sản; xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới, cần phải thực hiện tốt một số nội dung và biện pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trước hết và trên hết là do Đảng ta nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết cần tập trung: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng trong các văn kiện Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương khóa XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX, khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; thống nhất chương trình, nội dung học tập cho các đối tượng trong toàn xã hội; chống làm theo kiểu phong trào, hình thức, phô trương. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa yêu nước XHCN, lý tưởng cách mạng; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo ra sự “miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước các đòn tiến công về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản.

Hai là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và  nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.


Theo QĐND

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 06/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Cuối tháng 11-2018, các thế lực thù địch, phản động tán phát “Thư ngỏ” của Nguyễn Khắc Mai gửi đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nội dung bức thư xuyên tạc, bịa đặt, nói rằng: “Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam tôn trọng đa nguyên, mời gọi các chính Đảng cùng tham gia. Năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xóa bỏ Hiến pháp năm 1946 và khởi thảo Hiến pháp mới rất đậm dấu ấn mô hình Xô Viết và tư tưởng Diên An. Đến cuối đời, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đã từ bỏ lập trường chủ nghĩa cộng sản vì hai ông đã phát hiện chủ nghĩa cộng sản là một sai lầm của thời trẻ”… 

Trong “Thư ngỏ” cũng đồng thời đưa ra yêu sách “trên trời” mang tư tưởng đòi Đảng, Nhà nước ta phải thực hiện lại Hiến pháp năm 1946 và chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hủy bỏ hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phải đặc xá, trả tự do cho tất cả “tù nhân lương tâm” nhân dịp Tết Kỷ Hợi…

Bản chất của những nội dung đòi hỏi phi lý trong “Thư ngỏ” là lợi dụng những sự kiện chính trị - xã hội nhạy cảm diễn ra trong thời gian qua để xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sau đây là hai vấn đề căn bản đã bị xuyên tạc, bóp méo trong “Thư ngỏ”.

 

Thứ nhất, Nguyễn Khắc Mai đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật khi cho rằng, Hiến pháp năm 1946 có tinh thần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” và “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xóa bỏ Hiến pháp năm 1946 để xây dựng Hiến pháp 1959 theo mô hình Xô Viết và tư tưởng Diên An”. Thực tế, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 được Quốc hội Khóa I, Kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9-11-1946 gồm 7 chương, 70 điều, không có điều, chương nào thể hiện tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Đặc biệt, tại Điều thứ nhất, Chương I có ghi: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Hiến pháp 1946 ra đời đặt nền tảng cho quốc gia đi vào xây dựng một thể chế chính trị dân chủ được thiết lập vững chắc, với đầy đủ các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp, đoạn tuyệt với chế độ chính trị thực dân và quân chủ phong kiến. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ; khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và thiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân.

Năm 1954, trước sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội đất nước làm cho Hiến pháp 1946 không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước. Mặt khác, nhiều quy định của Hiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạng nước ta (miền Bắc lúc bấy giờ). Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Ban sửa đổi Hiến pháp với 28 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Ngày 1-4-1959, bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến. Đến ngày 31-12-1959, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khóa I đã thông qua bản Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1946; và ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố bản Hiến pháp năm 1959.

Mục tiêu của Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa, phát triển bản Hiến pháp năm 1946, tiếp tục khẳng định: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội; tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân; nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân; Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước, là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp”.

Hiến pháp năm 1959 thể hiện rõ bản chất một nhà nước kiểu mới - nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Trong nhà nước đó, tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân được hoà quyện chặt chẽ. Như vậy, những luận điệu trong “Thư ngỏ” có liên quan đến Hiến pháp năm 1946, 1959 và Chủ tịch Hồ Chí Minh là không có cơ sở.

Hai là, Nguyễn Khắc Mai cố tình hạ bệ lý luận khoa học, xuyên tạc các giai đoạn hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, cuộc đời C.Mác và Ph.Ăngghen nói riêng.

Trong “Thư ngỏ” đã có những lời lẽ vừa sai trái, vừa thô tục khi nói rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin thực ra là mớ hổ lốn, mà đám phản đồ hớp lấy những thứ cặn bã mà chính Mác và cả Ăngghen đã thải bỏ. Về lý tưởng cộng sản, hai ông ấy khẳng định đó chỉ là những ý nghĩ trẻ con lúc đầu đời và đã vứt bỏ lúc cuối đời. Mác tự mình chối bỏ cái gọi là chủ nghĩa Mác”. Đọc những lời lẽ trên, có thể khẳng định, tác giả của “Thư ngỏ” là người chưa từng đọc hoặc đọc nhưng không hiểu gì về các tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen. Thông qua các tác phẩm kinh điển cho thấy, cuộc đời của C.Mác và Ph.Ăngghen đều trải qua ba giai đoạn để đưa ra hệ thống lý luận khoa học, cách mạng.

Giai đoạn 1 (1841-1844): là giai đoạn hình thành tư tưởng triết học và bước quá độ từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản chủ nghĩa.

Đối với C.Mác: Trước 1841, C.Mác là tín đồ của đạo Kitô, ông khát khao vươn tới cái thiện. Năm 1841, C.Mác nhận bằng Tiến sĩ Triết học với luận án: “Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên Đêmôcrit và Epiquya”, bắt đầu thay đổi lập trường. Năm 1842, C.Mác bắt đầu công tác tại “Nhật báo sông Ranh”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gặp nhau và cộng tác viết nhiều bài trên tờ báo này. Thời kỳ này, hai ông chưa hoàn toàn đoạn tuyệt với quan điểm duy tâm. Năm 1843, C.Mác viết “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen” và tiếp xúc với phong trào công nhân; hoàn toàn chuyển sang lập trường chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. Đầu năm 1844, Mác phối hợp cùng Rugơ xuất bản tạp chí “Niên giám Pháp Đức”, ông viết “Bản thảo kinh tế - triết học”, đánh dấu bước hoàn thành chuyển biến về lập trường.

Đối với Ph.Ăngghen: Năm 1839, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu triết học, đặc biệt là triết học Hêghen. Năm 1841, ông đã tham dự những giờ giảng của Hêghen ở Béclin, tiếp thu tư tưởng triết học và từng bước rút ra những kết luận vô thần. Năm 1842, gặp C.Mác, cộng tác viết nhiều bài trên báo sông Ranh, thể hiện sự chuyển lập trường. Năm 1844, Ph.Ăngghen viết “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, chuyển biến hoàn toàn lập trường.

Giai đoạn 2 (1844-1848): Đây là thời kỳ xây dựng những nguyên lý cơ bản về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với sự ra đời của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Năm 1848 đã đánh dấu hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, một thế giới quan triết học mới ra đời.

Giai đoạn 3 (1848-1895): Đây là giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình và đưa học thuyết Mác vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân cho đến khi Ph.Ăngghen qua đời (1895). Từ 1848-1871, C.Mác và Ph.Ăngghen lấy triết học làm thế giới quan, phương pháp luận nghiên cứu kinh tế chính trị và chủ nghĩa cộng sản và làm phong phú cho triết học trước đó. Chủ nghĩa Mác trở thành hệ tư tưởng khoa học trong phong trào công nhân ở nhiều nước trên thế giới. Từ năm 1871-1895, C.Mác và Ph.Ăngghen lần lượt phát triển cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác.

Đến cuối đời, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản khoa học mới thực sự chín muồi và hội tụ trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành hiện thực, thành lý luận khoa học và cách mạng, mở ra con đường phấn đấu vì tự do, hạnh phúc cho nhân loại.

Trước những đóng góp to lớn về lý luận, các tổ chức uy tín của thế giới đã thừa nhận, suy tôn thế kỷ XX là thế kỷ của C.Mác và Ph.Ăngghen. Bên cạnh đó, sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, tác phẩm “Tư bản” của C.Mác đã được phát hành rộng rãi, thậm chí bán không đủ nhu cầu cho người đọc trên chính quê hương của C.Mác.

Những cống hiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại cho nhân loại và giai cấp công nhân quốc tế thế giới quan khoa học và cách mạng, là “công cụ nhận thức vĩ đại” để cải tạo thế giới, xây dựng xã hội, thế giới loài người tốt đẹp hơn. Điều này, lịch sử đã ghi nhận.

Rõ ràng, những nội dung và lời lẽ trong “Thư ngỏ” của Nguyễn Khắc Mai vừa cho thấy những nhận thức lệch lạc, đã vậy, lời lẽ thô thiển, vậy mà vẫn tung lên mạng rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo Đảng đòi hỏi phải thế này, thế khác. Thiết nghĩ, người viết “Thư ngỏ” cần nhìn lại chính mình, xem nhận thức tương xứng với đòi hỏi chưa trước khi đặt bút viết “Thư ngỏ”!

Hồng Phú (CAND)

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 06/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Vừa qua, Bộ Công an đã hoàn thành dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng. Dự thảo Nghị định gồm 06 chương 30 điều.

Dự thảo Nghị định này được đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Công an cùng với dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong thời gian 02 tháng kể từ ngày đăng.

Các ý kiến đóng góp xin gửi về Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, địa chỉ 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

**********

1. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng: gồm 06 chương, 30 điều, quy định các nội dung cụ thể, trọng tâm của các vấn đề được giao xây dựng, trong đó tập trung chủ yếu vào xác định căn cứ xác lập, điều kiện và cơ chế phối hợp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; vấn đề lưu trữ dữ liệu và đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam. Một số nội dung trọng tâm là:

(1) Xác lập hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 3): Dự thảo đã quy định “căn cứ xác lập” để nâng cao khả năng triển khai trong thực hiện với những quy định đã có trong Điều 10 Luật An ninh mạng, tập trung xác định những căn cứ rõ ràng, liên quan trực tiếp tới an ninh quốc gia. Bộ Công an cũng thấy rằng, để bảo đảm phù hợp hơn với thực tế, cần có sự khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng những hệ thống điển hình của các ngành, lĩnh vực trọng yếu, qua đó khái quát, rút ra những căn cứ chung nhất, bổ sung vào dự thảo.

(2) Phối hợp thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Mục 2, Chương 2): Hiện nay, có 03 nội dung cần sự phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông là các hệ thống thông tin trùng nhau giữa Danh mục hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, đó là: kiểm tra, giám sát, thẩm định đối với những hệ thống này. Qua thảo luận, trao đổi, các cơ quan có liên quan đã thống nhất cơ chế phối hợp: giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thông tin của Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong kiểm tra, giám sát, thẩm định; chia sẻ dữ liệu thu thập được từ những hệ thống này để phục vụ chung cho công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, bảo vệ an ninh mạng. Đây là nội dung mang tính đột phá nhằm hạn chế những trùng dẫm trong thực hiện nhiệm vụ được giao, hạn chế các thủ tục hành chính.

(3) Điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Mục 3, Chương 2): quy định những điều kiện là nền tảng cơ bản, thực sự cần thiết để bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

(4) Trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng (Chương 3): Dự thảo Nghị định quy định trình tự, thủ tục thực hiện 04 biện pháp bảo vệ an ninh mạng là thẩm định, đánh giá, kiểm tra và ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng. Đây là những biện pháp kỹ thuật, áp dụng đối với 02 chủ thể chính là chủ quản hệ thống thông tin và lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

(5) Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở Trung ương và địa phương (Chương 4): tập trung những nội dung mang tính nguyên tắc, khuyến nghị áp dụng, với 03 nội dung chính: Xây dựng, hoàn thiện quy định, quy chế sử dụng mạng máy tính của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương; Xây dựng, hoàn thiện phương án bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương; Phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương.

(6) Quy định yêu cầu lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam (khoản 3 Điều 26). Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng, vị trí đặt dữ liệu không góp phần tăng cường tính bảo mật của dữ liệu, nhưng trong vấn đề này cần được đánh giá trên nhiều yếu tố, nhiều phương diện và nhiều chiều. Từ góc độ quản lý nhà nước và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững trong tương lai, Nhà nước phải làm chủ và quản lý, bảo vệ được các dữ liệu về thông tin cá nhân và thông tin do công dân trong nước tạo ra. Đây là vấn đề chủ quyền dữ liệu, tránh tình trạng tập trung, độc quyền của các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài, bất bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước, trong khi nguy cơ an ninh dữ liệu được đặt ở mức cao hơn khi bên thứ ba có thể tiếp cận, khai thác, sử dụng mà Nhà nước không quản lý được. Việc Facebook liên tục lộ, lọt dữ liệu người dùng qua các hình thức khác nhau đã chứng minh sự bất cập khi một công ty nước ngoài quản lý toàn bộ dữ liệu công dân của quốc gia khác. Tương lai, dữ liệu mới là nguyên liệu đầu vào quan trọng nhất cho nền kinh tế, khi mà các hoạt động của Nhà nước đều phải dựa trên sự phân tích, thống kê dữ liệu. Làm chủ được dữ liệu góp phần giúp quốc gia làm chủ được tương lai.

Để bảo đảm được tính đa chiều, phù hợp với tình hình thực tế và thăm dò dư luận xã hội, qua nhiều phiên họp, thảo luận, dự thảo Nghị định hiện quy định phương án:

- Đối với dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam: Dự thảo Nghị định quy định 03 loại dữ liệu cần lưu trữ theo Khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng, nhưng không phải toàn bộ các loại hình lưu trữ, mà thiết lập “bộ lọc”, xác định quy định một số loại dữ liệu thực sự cần thiết, cần áp dụng các biện pháp bảo vệ tương xứng trong 03 loại dữ liệu nêu trên để bảo đảm yêu cầu bảo vệ an ninh dữ liệu.

- Đối với doanh nghiệp phải lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam thuộc 10 loại hình doanh nghiệp, đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện: (1) Là doanh nghiệp cung cấp một trong các dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam sau đây: Dịch vụ viễn thông; Dịch vụ lưu trữ, chia sẻ dữ liệu trên không gian mạng; Cung cấp tên miền quốc gia hoặc quốc tế cho người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam; Thương mại điện tử; Thanh toán trực tuyến; Trung gian thanh toán; Dịch vụ kết nối vận chuyển qua không gian mạng; Mạng xã hội và truyền thông xã hội; Trò chơi điện tử trên mạng; Thư điện tử. (2) Có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý các loại dữ liệu quy định tại Điều 24 Nghị định này. (3)  Để cho người sử dụng dịch vụ thực hiện hành vi được quy định tại Khoản 1, 2 Điều 8 Luật An ninh mạng. (4) Vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 8, điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 26 Luật An ninh mạng.

-Về thẩm quyền yêu cầu lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam: Dự thảo Nghị định quy định Bộ trưởng Bộ Công an yêu cầu doanh nghiệp đủ điều kiện và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

- Về chế tài xử lý: Do chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này nên dự thảo quy định: “Các doanh nghiệp không chấp hành quy định lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật”.

2. Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, gồm 03 điều, 01 Phụ lục Danh mục hệ thống, chỉ quy định việc ban hành Danh mục và trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan tới Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Dự thảo này cơ bản nhận được sự đồng ý của thành viên Ban Soạn thảo, Tổ Biên tập, không có nhiều ý kiến tham gia.

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG AN

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 06/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Trích “Đạo đức cách mạng”, tháng 12-1958)

... Trước tình hình mới của cách mạng, tháng 12 - 1958, dưới bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Ðạo đức cách mạng. Tác phẩm được in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), sau đó được Nhà xuất bản Sự thật (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ngày nay) in thành sách và phát hành ngay trong tháng 12 - 1958.

Tuy cuốn sách mỏng, chưa đầy 20 trang, nhưng nội dung rất phong phú, cách viết súc tích, văn phong giản dị, dễ hiểu, chứa đựng những tư tưởng lớn về đạo đức mới - đạo đức cách mạng...

Tóm tắt nội dung tác phẩm ở đường dẫn:

http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/19783202-.html

ND - Trước tình hình mới của cách mạng, tháng 12 - 1958, dưới bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Ðạo đức cách mạng. Tác phẩm được in lần đầu  trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), sau đó được Nhà xuất bản Sự thật (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ngày nay) in thành sách và phát hành ngay trong tháng 12 - 1958.

Tuy  cuốn sách mỏng, chưa đầy 20 trang, nhưng  nội dung rất phong phú, cách viết súc tích, văn phong giản dị, dễ hiểu, chứa đựng những tư tưởng lớn về đạo đức mới - đạo đức cách mạng.

Phần đầu tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích về nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân, giải thích về sự tồn tại những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, trong các cơ quan đảng và chính quyền của chúng ta. "Từ khi có chế độ của riêng thì xã hội chia thành giai cấp, giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, do đó có mâu thuẫn xã hội, có đấu tranh giữa các giai cấp và từ đó, người nào cũng thuộc vào hoặc giai cấp này hoặc giai cấp khác... Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen... Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân"(1).

Ở phần này, Bác cũng khẳng định, để chống lại chủ nghĩa cá nhân, nhất định phải rèn luyện, tu dưỡng và thấm nhuần sâu sắc đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Trong phần này, Bác  nêu một số tấm gương sáng  cán bộ Ðảng ta, như các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai... đã hy sinh cả tính mạng cho sự nghiệp cách mạng. Ðó là những biểu hiện cụ thể, cao quý của đạo đức cách mạng.

Phần tiếp theo của tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm và phân tích các yếu tố nội hàm của "đạo đức cách mạng". Theo Người, đạo đức cách mạng là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Ðảng, cho cách mạng. Ðó là điều chủ chốt nhất.

Từ khái niệm đó, Người phân tích nội dung cụ thể của đạo đức cách mạng là phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, đoàn kết chặt chẽ với nông dân, trí thức và toàn dân tộc, ngoài lợi ích của giai cấp và dân tộc, Ðảng không có lợi ích nào khác. Ðạo đức cách mạng là phải thực hiện được các mục tiêu của Ðảng, phải hoàn thành một cách xuất sắc các nhiệm vụ được giao.

Ðạo đức cách mạng là, vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải kiên quyết đấu tranh chống lại mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không cúi đầu. Người chỉ rõ có ba kẻ địch luôn chống lại chúng ta, đó là: chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc; thói quen và truyền thống lạc hậu vì nó ngấm ngầm ngăn cản sự phát triển của cách mạng và sự tiến bộ của chúng ta; kẻ thù thứ ba chính là chủ nghĩa cá nhân, nó ẩn nấp trong mỗi chúng ta, nó chờ mỗi khi ta thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu lên. Nó là bạn đồng minh của hai kẻ thù kia.

Ðạo đức cách mạng là, phải luôn luôn thực hiện "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên phải thật sự gương mẫu, lời nói phải đi đôi với việc làm, tư tưởng phải thống nhất với việc làm. Về nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê phán rất quyết liệt: "... một số đảng viên, cán bộ đang còn xa xỉ, tham ô, lãng phí, không biết tiếc, biết tôn trọng của công, không biết thương tiếc của cải do mồ hôi, nước mắt đồng bào làm ra. Do đó mà đẻ ra xa xỉ. Lương bổng Chính phủ cấp cho chúng ta có hạn mà ta xa xỉ thì lấy tiền đâu? Ðã có cái áo rồi còn muốn hai ba cái như thế là lãng phí. Lại muốn mua thứ này thứ khác mà thiếu tiền sinh ra tham ô"(2). 

Ðạo đức cách mạng là, phải biết hy sinh cho sự nghiệp của Ðảng, của Tổ quốc và của dân tộc, coi đó là niềm vinh dự lớn. Không thể kể công với Ðảng. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Ðảng "cảm ơn" họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thỏa mãn yêu cầu của họ thì oán trách Ðảng. Ðạo đức cách mạng là, phải gắn bó máu thịt với nhân dân, tin dân, dựa vào lực lượng vô địch của nhân dân để lãnh đạo nhân dân chống lại mọi kẻ thù xâm lược, đói nghèo và lạc hậu.

Do vậy, cần phải khắc phục tình trạng "... chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng... Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh"(3). Dần dần họ bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh... Họ không lắng nghe ý kiến quần chúng, họ xem khinh những cán bộ ngoài Ðảng và kết quả tất yếu là quần chúng không tin, không theo và bỏ rơi họ.

Phần thứ ba của tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích về con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến lên CNXH. Người khẳng định: Muốn chủ nghĩa xã hội thành công thì phải chống được chủ nghĩa cá nhân và phải thực hiện cho được đạo đức cách mạng. Theo Người: Ðấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không hề mâu thuẫn với bảo vệ lợi ích cá nhân, cũng không phải "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Ðiều này được bảo đảm bằng bản chất tốt đẹp của chế độ ta - đó là chế độ dân chủ, "bao nhiêu quyền lợi đều thuộc về nhân dân". Ở phần này, Người đưa ra quan điểm rõ ràng: Không ai có thể thỏa mãn rằng mình đã có, đã đủ đạo đức cách mạng, bởi vì: "Cách mạng tiến lên mãi, Ðảng tiến lên mãi. Cho nên người cách mạng cũng phải tiến lên mãi"(4). Người cách mạng muốn tiến lên phải không ngừng tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng, đồng thời phải gắn bó với phong trào, nghĩa là phải luôn sát thực tế, và phải luôn trau dồi lý luận Mác - Lê-nin.

Kết luận tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, bởi nó là "kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội". Và: "Ðạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"(5).

Tác phẩm Ðạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời đã nửa thế kỷ, nhưng những nội dung, những vấn đề có tính nguyên tắc để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Ðảng, để chống chủ nghĩa cá nhân, thường xuyên thực hiện đạo đức cách mạng, để xây dựng một Ðảng vững mạnh, một chính quyền hướng về dân, một đội ngũ công chức xứng đáng là công bộc của dân... vẫn còn nguyên giá trị.

Trong tình hình hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; kiên quyết chống tham ô, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, là những nguy cơ cản trở sự phát triển của sự nghiệp cách mạng nước ta, tác phẩm Ðạo đức cách mạng có giá trị thực tiễn rất cao. Hơn thế, cuốn sách còn thể hiện những tình cảm tha thiết của Bác Hồ đối với sự tiến bộ của cán bộ, đảng viên, với Ðảng và nhân dân lao động.

Trong hệ thống trưng bày Bảo tàng Hồ Chí Minh, tác phẩm Ðạo đức cách mạng là một hiện vật quan trọng, cùng với các tài liệu, hiện vật khác để hình thành một hệ thống thông tin phục vụ việc tuyên truyền, giới thiệu về tư tưởng, tấm gương đạo đức của  Hồ Chí Minh.

Kỷ niệm 60 năm tác phẩm Ðạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là dịp để chúng ta cùng ôn lại những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, mà chính Người là một tấm gương sáng cho các thế hệ người Việt Nam noi theo.

Hồng Duyên (Bảo tàng Hồ Chí Minh)

----------------
(1) Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, t.9, tr.282-283.

(2) Hồ Chí Minh:  toàn tập, Sđd, t.8, tr. 409-410.

(3) Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, t.9, tr.290-291.

(4) Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd  t.9, tr.292.

(5) Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, t.9, tr.293.

Trích đăng trên trang thông tin điện tử Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

22 năm, đôi vợ chồng nhà giáo ở phường 15, quận Tân Bình âm thầm giành giật từng học trò với cuộc đời.

Thầy cô quan niệm: "Cánh cửa nhà trường mở ra, cánh cửa nhà tù sẽ khép lại".
Những nỗ lực của thầy cô đã có kết quả khi nhiều lớp học trò thành nhân!

Mỗi em là hoàn cảnh, có em cha chết, mẹ bán vé số; có em mẹ làm nghề mại dâm, cha đi tù… nhưng thầy cô giáo vẫn kiên trì giành giật với đời từng học trò.

----------

Có một lớp học, em 9 tuổi học chung em 17 tuổi. Trong lớp, thường xuyên có cảnh em này giật tóc em kia, bạn sau lấy thước chọt lưng bạn trước, khi bạn quay lại cự thì cười nham nhở… 

Và mỗi em mỗi hoàn cảnh, có em cha chết, mẹ bán vé số, có em mẹ làm nghề mại dâm, cha đi tù… Hỗn độn, ồn ào nhưng cũng đầy nước mắt trong lớp học này vì thế đôi vợ chồng nhà giáo Võ Thị Bích Vân - Nguyễn Tất Hữu (58 tuổi) đã gắn bó hơn 22 năm mà chưa có ý định rời xa.

Cùng học cao đẳng sư phạm Quảng Nam nhưng đến năm thứ ba, cô nữ sinh Bích Vân mang thai nên phải tạm gác lại việc học. Anh chàng lãng tử ca hay, đàn giỏi Tất Hữu cũng nghỉ học để đi làm kiếm tiền chuẩn bị cho đứa con đầu lòng chào đời. Họ lấy nhau, lần lượt 3 đứa con ra đời, khó khăn chồng chất. Năm 1994, họ rời quê theo bạn bè vào Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Hai vợ chồng thuê nhà trọ tại phường 15 quận Tân Bình, TP HCM. Vợ bán rau muống ở chợ còn chồng đạp xe khắp nơi dạy kèm tiếng Anh để đắp đổi qua ngày.

Những năm này, dân nhập cư đổ về cư ngụ ở quận Tân Bình ngày càng đông, trong đó nhiều em một chữ bẻ đôi cũng không biết, giấy khai sinh không có. Trước tình hình này, Hội khuyến học phường 15 mở ra lớp học dành cho các em thuộc đối tượng khó khăn. Không có giáo viên dạy, cô Vân tình nguyện đứng lớp. Có em một buổi đi bán vé số, một buổi đến lớp. Có em đến lớp 1-2 ngày lại biến mất vì phải canh công an cho mẹ "đi khách"… Những lúc này, cô Vân lại lóc cóc đạp xe đến nhà trọ, ra đường tìm từng đứa học trò mang về lớp. Rồi lớp học đông dần, cô phải chia ra làm 2 và nhờ chồng phụ đứng lớp. Hiện nay, lớp có 27 em theo học 2 lớp: từ lớp 1 đến lớp 3 học vào buổi sáng do thầy Hữu dạy, từ lớp 4 đến lớp 5 học buổi chiều do cô Vân đảm trách.

Trong lớp ấy, mỗi em mặc đồng phục có logo của một trường, có em mặc quần ngắn, có em mặc quần dài, em mặc váy xanh, có em mặc quần jean… Sách vở cũng khác nhau, có sách trắng tinh cũng có sách ghi chi chít chữ vì tất cả đều là đồ người khác cho. "Cứ vào đầu năm học, chúng tôi lại đi vận động, ai có gì cho nấy. Rồi vợ chồng chịu khó soạn ra, thấy cái nào còn mới, lành lặn, hợp với đứa nào thì đưa mang về để mặc; sách vở cũng thế nên mỗi em mỗi kiểu, không em nào giống em nào"- thầy Hữu cho hay.

Hơn 22 năm âm thầm làm kiếp đưa đò, cô Vân, thầy Hữu không thể nào nhớ hết họ đã giúp cho bao hoàn cảnh, dạy dỗ cho bao em học sinh có cha mẹ thuộc thành phần bất hảo của xã hội. Đang trò chuyện, chúng tôi nghe một giọng vang lên: "Đ.M mày chơi ăn gian.." của hai em nhỏ đang ngồi chơi cờ. Cô Vân bỏ dở cuộc trò chuyện bước ra nói với các em: "Các con không được chửi thề, như thế là xấu. Cô nghe lần nữa sẽ phạt" rồi cô phân bua: "Chúng tôi thường xuyên nghe những câu này. Em ấy cha mẹ chết, mỗi ngày phải ra chợ phụ bán cá với bà ngoại nên nói năng có phần lỗ mãn. Đa số các em đều thiếu tình thương nên phải nhẹ nhàng. Nói thế nhưng đôi khi tôi cũng phải dùng biện pháp mạnh mới răn đe nổi".

Cô Vân kể trong suốt khoảng thời gian đứng lớp, cô nhớ nhất hoàn cảnh của hai chị em ruột Đ.N.M, Đ.T.P có cha mất, mẹ làm nghề "tú bà". Anh của hai em cũng chết vì AIDS còn chị theo chân mẹ làm gái bán dâm. 

Khi cô Vân tìm đến gặp mẹ hai em, bà nhiều lần lẩn tránh và quyết không cho con đi học. "Nhưng rồi kiên trì mãi tôi cũng gặp được mẹ của M. và N. Tôi hỏi: Chị làm nghề này có sợ công an bắt không? Nếu chị sợ thì đừng bắt con mình sống như mình. Hai đứa con đầu đã lỡ rồi, 2 đứa nhỏ như 2 tờ giấy trắng. Xin chị giao 2 đứa nhỏ cho tôi để tôi dạy dỗ các cháu"- cô Vân nhớ lại.

Không ngờ câu nói từ tận đáy lòng ấy đã chạm đến tình mẫu tử của một người mẹ gian hồ, bà hứa cho con đi học và không bắt con theo nghề mình. Nay M. đang làm công nhân, đã lấy chồng sinh con còn em trai cũng mở được tiệm sửa xe.

Có một lần, lớp cô đón 5 mẹ con rách rưới, đen nhẻm từ Campuchia trở về. Cha chết vì bị Pôn Pốt giết, người mẹ không có nghề nghiệp, các con không có giấy khai sinh, không nói được cả tiếng Việt. Vợ chồng cô Vân, thầy Hữu nhận 4 đứa trẻ vào, dạy chữ, dạy cả sinh hoạt, văn hóa Việt Nam. Và 4 đứa trẻ ngày ấy nay đã thành tài, có người là giáo viên, có người là công an xã, người làm kế toán và một người làm nhân viên bảo trì.

Từ lớp học nghèo nàn, chấp vá này, rất nhiều em đã vào được cao đẳng, đại học. Như em N.C.T, mẹ chết vì bệnh AIDS, cha em cũng tự tử khi biết mang trong người căn bệnh thế kỷ, em sống cùng bà ngoại rất nghèo. May mắn, T. không có virus HIV trong người. Học xong chương trình tiểu học, vợ chồng cô Vân, thầy Hữu đã vận động các mạnh thường quân tiếp sức đóng học phí, mua sách vở để em tiếp tục đến trường. Nay T. đã vào đại học bằng chính tình yêu thương vô bờ bến của thầy cô mình.

"Ngày 20-11, nhiều em gọi điện thoại về cho vợ chồng tôi chúc mừng, thông báo tình hình việc làm, đời sống. Chỉ cần nghe thế, vợ chồng ngồi cười cùng nhau rồi lặng lẽ khóc khi chúng tôi giành giật với đời thành công từng đứa học trò. Khi cánh cửa trường học mở ra, cánh cửa tù khép lại"- thầy Hữu tâm sự. 

Vào ngày Tết Trung Thu, Tết thiếu nhi, nhiều em đã trở về để cùng thầy cô tổ chức chương trình vui chơi, tặng quà cho các em đang học. Rồi có em được địa phương cho xe đạp mới đã mang chiếc xe đạp cũ đến tặng lại lớp học để cho các em nhỏ hơn có phương tiện đến trường. Tình yêu thương, vòng tay của thầy cô cứ thế nối ra, lớn ra, lan rộng.

Trích đăng trên trang thông tin điện tử Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

Là đội tiên phong chiến đấu, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng phải là một tổ chức trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ đảng viên”[1]. Người cho rằng, nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng. Kỷ luật Đảng rõ ràng, chặt chẽ, nghiêm minh là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi.

Kỷ luật của Đảng là kỷ luật dựa trên tình đồng chí, kỷ luật của những người cùng chung một lý tưởng, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc. Mọi đảng viên và tổ chức đảng liên kết với nhau theo một kỷ luật chung dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, sự thống nhất chặt chẽ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, được thể hiện tập trung trong các điều khoản của Điều lệ Đảng. Kỷ luật đó xuất phát từ ý chí của toàn Đảng nhằm bảo đảm cho sự thống nhất, tập trung cao trong Đảng, đồng thời để phát huy dân chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của toàn thể đảng viên và các tổ chức đảng. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Kỷ luật của Đảng là “kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”[2].

Kỷ luật của Đảng không chỉ đòi hỏi tính tự giác mà còn mang tính bắt buộc đối với những cá nhân, những bộ phận chưa ý thức đầy đủ nhiệm vụ của người đảng viên. Bắt buộc là một nội dung tất yếu của mọi hình thức kỷ luật. Sự giác ngộ càng cao thì tính bắt buộc càng ít và càng mang tính tự giác cao. Đảng viên tự giác chấp hành những điều khoản trong Điều lệ đã được họ thảo luận dân chủ và thống nhất ý kiến trước khi được chính thức thông qua tại các kỳ đại hội đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”[3]. Người yêu cầu đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn “phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân”; họ “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất thì làm”[4]. Các đảng viên, cán bộ đó “không biết kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”[5].

Tuy nhiên, chỉ với cơ chế lãnh đạo đúng thì mới thực sự có kỷ luật chặt chẽ, tự giác. Theo Hồ Chí Minh, đối với mọi đảng viên cộng sản, khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức, phải báo cáo, phải chấp hành nghị quyết, chỉ thị một cách nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo. Đó là tính Đảng, không có ngoại lệ. Đây là điều cực kỳ quan trọng trong những bước ngoặt của cách mạng, khi những biến cố chính trị đang làm thay đổi tình hình một cách mau lẹ, khôn lường. Hồ Chí Minh yêu cầu những đảng viên giữ vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc, không được châm chước, bao che cho nhau. Trong bất kỳ trường hợp nào, Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật.

Củng cố và tăng cường kỷ luật Đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải là để kỷ luật cho nhiều đảng viên, mà chủ yếu là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng đòi hỏi các cấp ủy đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành luật pháp, phải đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế XHCN. Đảng nghiêm cấm các tổ chức đảng tuỳ tiện đề ra những quy định trái pháp luật.

Để bảo đảm kỷ luật được chặt chẽ, tự giác phải mở rộng, tăng cường dân chủ trong Đảng. Hai mặt dân chủ và kỷ luật trong Đảng phải luôn luôn đi đôi với nhau. Có mở rộng và tăng cường dân chủ trong Đảng thì mới bảo đảm được kỷ luật và có bảo đảm được kỷ luật thì mới tăng cường được dân chủ. Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại bản Di chúc lịch sử và dành những lời đầu tiên cho Đảng: “Trước hết nói về Đảng... Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là phản ánh trung thực tinh thần dân chủ và sức chiến đấu của Đảng. Bởi vì: “... một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”[6]

Vậy nên, mỗi cán bộ, đảng viên hàng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình và khắc phục những yếu kém, khuyết điểm của mình. Thực hiện tự phê bình và phê bình chính là bước mở đầu cho cuộc tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”.

Dân chủ trong Đảng thể hiện trên nhiều mặt như dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định; trong công tác cán bộ, bầu cử cấp ủy trong đó có vấn đề tự do tư tưởng và thảo luận theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp lãnh đạo phải biết nghe, dám nghe và khuyến khích được nghe các ý kiến khác nhau kể cả ý kiến khác với suy nghĩ lâu nay của mình. Người nhắc lãnh đạo các cấp phải “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến... Nếu cán bộ không nói năng, không đề ra ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì để nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản”[7].

Đáng tiếc là hiện nay không ít cán bộ lãnh đạo chưa lắng nghe những ý kiến khác nhau của cấp dưới. Họ chỉ ưa thích xu nịnh. Thậm chí họ còn tìm cách trù dập, vô hiệu hoá những cán bộ có suy nghĩ trái, ý kiến phản biện. Do đó, có cán bộ làm việc đạt hiệu quả cao, được quần chúng tin cậy nhưng vẫn không được trọng dụng vì những người này hay “phản ứng” và ít chịu “vâng lời” các cấp lãnh đạo trực tiếp của mình. Thái độ độc đoán, chuyên quyền và động cơ cá nhân của những cán bộ lãnh đạo này là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, làm cho nội bộ tổ chức đảng mất đoàn kết kéo dài, có nơi nghiêm trọng.

Hồ Chí Minh khẳng định mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình, đề đạt kiến nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Song khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Đó là quyền tự do phục tùng chân lý. Đảng cho phép mọi đảng viên được tư do tư tưởng, được đề đạt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến riêng của mình lên đến cơ quan cao nhất của Đảng. Nhưng, Đảng cũng đòi hỏi trong các hội nghị, trên các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ, đảng viên phát biểu ý kiến phải theo đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng. Mọi đảng viên phải giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được bạ đâu nói đó, không được lợi dụng các diễn đàn, các cuộc hội thảo, hội nghị để đả kích tổ chức, phê phán lãnh đạo, bôi nhọ cá nhân một cách bừa bãi và tuyên truyền các quan điểm sai trái. Tuỳ tiện phát ngôn là tạo cơ hội cho kẻ thù và những phần tử xấu lợi dụng chống Đảng.

Nguyên tắc của Đảng là phải quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên trong cả lời nói và việc làm. Trách nhiệm đó trước hết thuộc về các chi bộ đảng. Mọi cán bộ, đảng viên dù ở cấp nào cũng đều phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tham gia đầy đủ sinh hoạt chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết không để một cán bộ, đảng viên nào được đứng ngoài sự quản lý của tổ chức. Mọi hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng gây chia rẽ, bè phái trong Đảng đều phải bị xử lý nghiêm minh. Phải thường xuyên rà soát, phân loại, sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên để làm trong sạch, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đây là yêu cầu cấp thiết thường xuyên để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, thực tiễn cách mạng luôn vận động và phát triển. Đảng ở trong xã hội và cùng xã hội phát triển. Tuy nhiên, mỗi khi gặp tình hình mới, công tác mới... tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên không khỏi bỡ ngỡ, lệch lạc, hoặc “tả”, hoặc “hữu’, đó là điều bình thường, cho nên thống nhất ý chí, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng. Người thường chỉ dạy: Nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Để làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho Đảng, toàn thể cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Trung ương, phải tuyệt đối chấp hành nghiêm túc mọi chính sách và nghị quyết của Đảng[8]

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H.2005, tập 10, tr.311

2. Sđd, tập 5, tr.553

3. Sđd, tập 10, tr.311

4. Sđd, tập 7, tr.31

5. Sđd, tập 7, tr.31

6. Sđd, tập 5, tr.261

7. Sđd, tập 5, tr.280

8. Sđd, tập 7, tr.335

TS. Trần Duy Hưng/ Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

Trích đăng trang thông tin điện tử Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

Chiều nay 03/10/2018, Văn phòng Trung ương Đảng phát thông cáo báo chí ngày làm việc thứ 2 của Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khoá XII, theo đó, 100% Ủy viên Trung ương đã thống nhất giới thiệu Đồng chí Tổng Bí thư để Quốc hội xem xét, bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước.

Trước và sau khi có thông báo này, trên mạng xã hội có nhiều thông tin “ủng hộ nhất thể hoá chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước” (như nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa). Có người lại cho rằng làm như vậy là “vi hiến”.

Vậy chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Đầu tiên cần phải khẳng định: Không dùng từ “hợp nhất”, hay “nhất thể hoá” trong trường hợp này, vì chức danh Bí thư các cấp của Đảng là do Đại hội Đảng (hoặc cấp ủy Đảng) bầu theo quy định của Đảng, chức danh Chủ tịch nước do Quốc hội bầu theo Quy định của Hiến pháp. Chưa có quy định nào yêu cầu Tổng Bí thư không làm Chủ tịch nước (và ngược lại). Như vậy, tức là hoàn toàn có khả năng 01 người đồng thời giữ 2 nhiệm vụ TBT và CTN.

Chúng ta cần nhớ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng là Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Nguyên thủ Quốc gia), và đồng thời cũng là người đứng đầu Chính phủ (theo Hiến pháp 1946).

Như vậy, việc Đảng ta giới thiệu người đứng đầu Đảng giữ vị trí Nguyên thủ Quốc gia là hợp pháp, đúng quy định của Đảng, và cũng không phải là điều “chưa từng có tiền lệ”.

Nếu dùng từ “hợp nhất”, “nhất thể hoá” nghĩa là 02 chức danh trên sẽ nhập làm một, như vậy Đảng sẽ làm thay Quốc hội chức năng bầu Nguyên thủ Quốc gia? Đó chính là xuyên tạc bản chất sự việc, phủ định nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị (Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước). Bên cạnh đó, họ nói như vậy còn để dẫn dắt người đọc theo hướng ngộ nhận rằng Đảng, Nhà nước ta “rập khuôn” mô hình Trung Quốc, từ đó kích động tâm lý bài Trung để quay ra chống Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, “hợp nhất”, “nhất thể hoá” còn có thể gây ngộ nhận là từ nay về sau các trường hợp nhân sự TBT, CTN tiếp theo cũng “sẽ là 01 người”?

Như chúng ta đã biết, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đột ngột từ trần ngày 21/9/2018 là mất mát lớn cho Đảng và Nhà nước ta, và cần thiết phải khẩn trương thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự Chủ tịch nước đảm bảo tiêu chuẩn theo Quy định. Do đó, trong cuộc họp BCH TW gần nhất này đã phải bổ sung nội dung nhân sự, trong đó Trung ương lựa chọn nhân sự giới thiệu bầu Chủ tịch nước trên cơ sở Quy định tiêu chuẩn cán bộ của Đảng, để Quốc hội xem xét bầu cử, không phải là hợp nhất mà phải được bầu cử theo quy định của Đảng và Hiến pháp, Pháp luật.

Chúng ta cần nhận thức rõ bản chất hoạt động này của BCHTW Đảng để tỉnh táo trước các thông tin nhiễu loạn, hàm chứa ý đồ xấu.

- Tháp Mười -

Trích đăng từ trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

                                                     

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

(Codotphcm) Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định (T4) được chính thức thành lập vào năm 1960. Ban có 24 đơn vị trực thuộc (gọi là B): Tuyên truyền, Thông tấn xã, Đài Minh ngữ, Nhiếp ảnh, Báo chí, Nhà in, Văn công, Điện ảnh, Họa – Khắc, Huấn học, Giáo dục, Trường Đảng, Văn phòng, Bảo vệ căn cứ, Tiếp liệu, Đội giao liên cơ quan, Giao liên bàn đạp, Võ trang tuyên truyền, Phân xã Giải phóng, Điện đài, Mật mã, Cơ yếu. Ban có gần 300 cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, nhưng lại có hơn 100 quần chúng giác ngộ cách mạng tự nguyện tham gia trong các lực lượng tiếp liệu, đội võ trang tuyên truyền, giao liên bàn đạp và trên 600 gia đình cơ sở cách mạng trong các vùng lõm chính trị, xung quanh các trạm giao liên và căn cứ cách mạng. Ban đã nhiều lần tách nhập nhưng cuối cùng vẫn nhập làm một và tên gọi vẫn là Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định (SG-GĐ).

Với chức năng nhiệm vụ phụ trách mặt trận chính trị - tư tưởng, vận động quần chúng các giới trên địa bàn khu SG-GĐ tham gia chống địch, đánh địch, ủng hộ cách mạng; khi cần thì chiến đấu tiêu diệt địch để tự bảo vệ và bảo vệ quần chúng. Điểm đặc biệt của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ là hoạt động trong lòng địch, trước mắt địch trong thế bị kềm tỏa, bị kiểm soát gắt gao và những người chung quanh ta ai căm thù Cộng sản, ai yêu nước, ủng hộ cách mạng ta đều chưa thể biết được; chỉ cần sơ sẩy một chút là có thể gây ra tổn thất nặng nề. Vì vậy hoạt động của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ không chỉ có Tuyên truyền, Huấn học… mà phải bao gồm cả chính trị - vũ trang - dân vận - binh vận và phải có “căn cứ” để lãnh đạo, có nơi đứng chân để chỉ đạo phong trào, để các cánh quân có thể ém quân nhằm tấn công mục tiêu đã định, để quần chúng cách mạng có thể làm chủ và nuôi dưỡng, che dấu cán bộ cách mạng; khi có điều kiện có thể tấn công địch, tiêu diệt địch.

1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm đặc biệt.

Ngay từ đầu năm 1960 – tức ngay sau khi Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ được thành lập – Tiểu ban Huấn học đã mở lớp đầu tiên đào tạo cán bộ cho phong trào học sinh-sinh viên khu SG-GĐ. Tháng 6/1965 Trường Đảng thành phố ra đời và năm 1969 Trường Đảng chính thức mang tên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ.

Từ 1960 đến 1975, từ Tiểu ban Huấn học sau này là Trường Đảng, đã tổ chức được trên 120 lớp cho 2.100 cán bộhoạt động nội đô và ngoại thành của Ban, 130 cán bộ hoạt động nội thành của Đoàn thanh niên, 81 cán bộ của tổ chức Công đoàn, 40 cán bộ cánh Trí vận, 35 cán bộ Phụ vận và trên 100 cán bộ của các tỉnh Long An, Tây Ninh…

Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ đã chọn khâu đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên là khâu đột phá và coi đó là yếu tố quyết định: cán bộ ngành Tuyên huấn được đào tạo bài bản từ quan điểm lập trường đến kiến thức, tạo nên mũi nhọn sắc bén khi tiến công địch trên nhiều trận địa, nhất là trên lĩnh vực chính trị-tư tưởng. Cán bộ Tuyên huấn khi gặp địch lập tức trở thành chiến sĩ đánh địch, dù phải hy sinh nhưng cũng tiêu diệt được kẻ thù đông gấp 3-4 lần. Lực lượng cán bộ chiến sĩ của Ban Tuyên huấn luôn kế tiếp, phát triển không hề suy giảm. 

2. Lợi dụng thế báo chí công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, đập lại chế độ phản động là nét độc đáo về chính trị.

Trong kháng chiến, Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ đã gầy dựng được 4 tờ báo: 3 tờ bí mật trong nội thành (Cờ Giải phóng, Sài Gòn vùng lên, Thống nhất) và tờ Ngọn cờ Gia Định ở ngoại thành với số lượng trên 2.000.000 tờ đã được phát hành trong các tầng lớp dân chúng. Nhiều nhà báo của ta từ ngoài đưa vào cùng một số nhà báo tên tuổi tại chỗ dưới nhiều bút danh khác nhau đã có mặt, có bài ở các tờ báo tiến bộ: Lẽ Sống, Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Sài Gòn mới, Tin Điển, Thời cuộc, Buổi sáng, Dân Chủ, Buổi chiều, Điện tín, Tuần san Phòng thương mại, Công lý, Duy Tân, Điện báo, tạp chí Tiến Thủ, tạp chí Nhân loại… đã tạo nên những phong trào: Báo chí chống độc diễn bầu cử của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (1973), đỉnh cao là phong trào “Ký giả đi ăn mày”, “Ngày ký giả thọ nạn” (10/10/1974)… được dư luận đánh giá là cuộc đấu tranh lớn nhất và có tác động mạnh nhất, sâu sắc nhất cả trong và ngoài nước, trong lịch sử đấu tranh của báo chí cách mạng.

Việc lợi dụng thế báo chí công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, đập lại chế độ phản động là nét độc đáo về chính trị trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ.

Để phục vụ cho công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, ngay sau khi được thành lập Ban đã cho xây dựng nhà in trong vùng giải phóng: nhà in chữ chì B1 tại Củ Chi; nhà in chữ chì B2 tại Trảng Bàng, Tây Ninh và nhà in chữ chì B3 ở Bến Cát, Bình Dương với 1 tổ in sáp (Stencil), 1 tổ in thạch bản (Litho). Trong nội thành có 2 nhà in công khai: 1 ở Bà Chiểu (nhà in Nguyễn Trọng), 1 ở Phát Diệm và 1 nhà in bí mật ở Hòa Hưng (quận 10). Trong điều kiện vừa in ấn, phát hành, vừa phải canh chừng địch (nội thành); chống càn, đánh địch (ngoại thành) để bảo vệ tài sản, bảo vệ sinh mạng của những người làm nhiệm vụ - nhà in đã bảo đảm in cho các tờ báo: “Đấu tranh”, “Giải phóng”, “Gia Định”, “Cờ Giải phóng”, “Cờ Gia Định”, “Khởi nghĩa”, in tập thơ “Phú Lợi”, “Đường vào vũ trụ của Gagarin”, nội san “Trí thức mới”, in cờ Mặt trận, thẻ căn cước giả, “10 chính sách cho vùng mới giải phóng” và hỗ trợ in báo “Quyết thắng” cho Quân khu, in tài liệu cho Thanh vận… lên đến gần 3 triệu tờ. Chủ động và phối hợp tấn công địch, chống càn 10 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 76 lính Mỹ và bắn cháy 8 xe tăng, 2 xe ủi đất, bắn rơi 2 trực thăng, thu 2 súng. Có 29 đồng chí hy sinh.

Có thể thấy rằng, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Ban Tuyên huấn Khu SG-GĐ dù trong tình thế ngặt nghèo khó khăn nhất (1955-1965) đã sáng tạo chuyển phần lớn hoạt động bí mật ra thế công khai, thông qua các tờ báo, sân khấu cải lương, phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc… Đội ngũ cán bộ của Ban từ những nhà báo, nhà văn, nhà thơ, văn nghệ sĩ đã mưu trí, khôn khéo hoạt động. Nhiều đồng chí bị bắt, hy sinh, một số cơ sở bị lộ nhưng những đồng chí còn lại, số mới tăng cường vẫn ngoan cường bám địa bàn để hoạt dộng và hoạt động có hiệu quả.

3. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị với vũ trang.

Đây là sự sáng tạo của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ từ thực tế của cuộc chiến đấu cam go trong lòng địch. Ban đã thành lập những Đội tuyên truyền rất sớm (từ 1965). Các đội đã đột phá vào các rạp hát, rạp chiếu bóng, các chợ, trung tâm thương mại đông người để rải truyền đơn, treo cờ, treo biểu ngữ, phổ biến nhanh các chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Từ 1968, tình hình đòi hỏi phải có sự tấn công địch bằng vũ trang, phải làm rệu rã chính quyền cơ sở của ngụy quyền, phải diệt ác phá kềm giải phóng quần chúng nhân dân bị kềm kẹp khắc nghiệt của ngụy quân, ngụy quyền; phục vụ cho việc xây dựng vùng lõm chính trị - căn cứ cách mạng ngay trong lòng Sài Gòn. Ban đã chuyển và lập 3 Đội vũ trang tuyên truyền, có đội hoạt động lưu động trên địa bàn thành phố - nghĩa là nơi nào cần thì Ban điều về để hỗ trợ - có đội được xây dựng tập trung ờ 1 địa bàn nhất định.

Hoạt động của các Đội vũ trang tuyên truyền khá phong phú và hiệu quả - đặc biệt là việc cảnh cáo các tên an ninh phường xã, các tên khóm trưởng, phường trưởng kể cả những tên do quân đội cử qua. Các đội đã điều tra, nắm kỹ những tên bị quần chúng lên án hay “dòm ngó” gia đình người khác, nội bộ kình địch mâu thuẫn nhau. Đội đã gởi thư cảnh cáo kèm theo phong bì là 1 viên đạn, phân tích bản chất xấu xa của đám sĩ quan, đám an ninh cấp trên và kêu gọi họ không làm việc cho ngụy quyền, không tiếp tay làm khó người dân, không đối đầu với Quân Giải phóng. Tác dụng rất rõ: một số xin thôi không làm việc, đa số hoạt động cầm chừng không dám huênh hoang và lùng sục như cũ. Đội tự chế tạo trái nổ bằng thuốc pháo, đốt và quăng vào trụ sở an ninh, các chốt “nhân dân tự vệ”…

Đỉnh cao là những tên ác ôn, cảnh cáo nhiều lần không giảm, Đội lên kế hoạch xin chủ trương tiêu diệt, tạo điều kiện cho quần chúng cách mạng và cơ sở cách mạng nơi đây bung ra hoạt động. Các đội đã in và rải trên 1.000.000 tờ truyền đơn, may và treo 21 cờ MTDTGP, may và treo 15 biểu ngữ; chế tạo trên 50 trái nổ, diệt 2 tên ác ôn tại 2 vùng lõm chính trị, bắn cảnh cáo bị thương 2 tên, cảnh cáo 65 tên an ninh xã, phường, khóm… Chính quyền cơ sở tự rệu rã, an ninh nới lỏng và tất nhiên lực lượng cách mạng hoạt động thuận lợi hơn, quần chúng yên tâm và tin tưởng cách mạng hơn.   

4. Tin và dựa vào dân, bắt rễ sâu trong quần chúng các giới.

Trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ, lĩnh vực nào cũng cần có sự ủng hộ, tiếp sức của quần chúng nhân dân để rồi mọi hoạt động của Ban là nhằm tập hợp quần chúng nhân dân, bảo vệ họ, hướng dẫn họ đấu tranh bảo vệ gia đình mình, bảo vệ đất nước.

Trên lĩnh vực báo chí, văn hóa, nghệ thuật, Ban đã vận động được các nhà báo, các văn nghệ sĩ tiêu biểu có ảnh hưởng tích cực đến phong trào như: Tô Nguyệt Đình, Nguyễn Văn Mại, Nam Đình… đã liên tục viết bài đăng trên các báo hướng dẫn dư luận đấu tranh. Nhà văn Văn Phụng Mỹ, Tiêu Kim Thủy, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Truy Phong… gây tiếng vang trong dư luận các giới.

Trên lĩnh vực sân khấu có các nghệ sĩ có tinh thần dân tộc, các đoàn hát tiến bộ như các đoàn: Việt kịch Năm Châu, Phước Chung, Kim Thoa, Thanh Minh, Kim Chưởng, Ngọc Kiều…

Trên trận địa giáo dục có các nhà giáo uy tín: Lê Văn Huấn, Nguyễn Trường Cửu, Lê Văn Chí, Nguyễn Bá Thảo, Lê Văn Thới… lồng các nội dung giáo dục tiến bộ vào bài giảng, sử dụng Nghiệp đoàn giáo dục tư thục Nam Việt làm nơi tập hợp lực lượng giáo viên tiến bộ đấu tranh với chính quyền Sài Gòn.

Những lực lượng tiến bộ khác thì sử dụng hình thức tổ chức công khai như “Ủy ban bảo vệ sinh mạng và tài sản dân chúng”, ở phường-khóm thì tổ chức “Chống thủy - hỏa - đạo tặc” để làm chỗ dựa cho quần chúng bảo vệ cán bộ và tuyên truyền chống địch.

Như vậy bài học mà Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ tuân thủ một cách sâu sắc đó là tiếp thu những giá trị tinh thần truyền thống cách mạng, tin và dựa vào Dân, bám rễ sâu trong quần chúng các giới, trong nhân dân khu xóm lao động kể cả tầng lớp bên trên trong việc tạo thế, tạo lực lâu dài phục vụ cho việc hoàn thành nhiệm vụ chiến lược do Đảng giao phó.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngành Tuyên huấn khu Sài Gòn - Gia Định có hơn 120 liệt sĩ (trong đó có 20 đồng chí tìm được hài cốt) và 64 thương binh, 30 đồng chí bị địch bắt tù đày, trong đó 6 đồng chí bị đày đi Côn Đảo -không có đồng chí nào đầu hàng địch, giữ vững khí tiết trong mọi hoàn cảnh.

Sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975), tiếp nối truyền thống Ban TH T4, Ban Tuyên huấn Thành phố Hồ Chí Minh ra đời và đi vào hoạt động trong giai đoạn mới. Sau nhiều lần đổi tên, đến năm 2007, Ban chính thức mang tên Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM như ngày nay. Với đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, được trui rèn, thử thách, Ban Tuyên giáo Thành ủy đã đảm đương trách nhiệm do Đảng bộ Thành phố giao một cách trọn vẹn.

Với những thành tích đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị do Khu ủy giao là đặc biệt xuất sắc, ngày 21 tháng 9 năm 2018, Ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn - Gia Định xứng đáng vinh dự được Đảng và Nhà nước ta phong tặng Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cờ đỏ Tp. Hồ Chí Minh

Trích đăng từ bài viết “Ban tuyên huấn khu sài gòn - gia định,mốc son lịch sử vẻ vang thời kỳkháng chiến chống mỹ” - trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

 

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Sau thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, để kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền nam, ngày 23-01-1961, Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền nam (T.Ư Cục MN) (thay thế Xứ ủy Nam Bộ trước đó), đặt dưới sự chỉ đạo của BCH Trung ương Đảng mà thường xuyên là Bộ Chính trị. Ngày 10-10-1961 tại hội nghị lần thứ nhất, T.Ư Cục MN đã chính thức thành lập bộ máy lãnh đạo của Trung ương Cục. Đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư, đồng chí Võ Chí Công, Phan Văn Đáng (Hai Văn) làm Phó Bí thư.

Ngày 23-11-1961 hội nghị T.Ư Cục đã quyết định thành lập Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền nam (Ban THT.Ư Cục MN), nối tiếp nhiệm vụ của Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Quyết định thành lập Ban THT.Ư Cục nêu rõ: Công tác tư tưởng chính trị, cổ động tuyên truyền đang đòi hỏi cấp bách một bộ máy tổ chức lãnh đạo với một đội ngũ cán bộ tuyên huấn thích ứng với mọi tình huống trong tình hình mới. Bộ Chính trị đã chỉ định đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư T.Ư Cục kiêm Trưởng Ban THT.Ư Cục. Do tính chất đặc biệt quan trọng và yêu cầu thường trực đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng của Đảng, các đồng chí Bí thư, Thường vụ T.Ư Cục đều kiêm là Trưởng ban hoặc chỉ đạo trực tiếp công tác tuyên huấn trong từng thời kỳ như đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng.

Khi thành lập Ban THT.Ư Cục chỉ có khoảng 150 người quy tụ chủ yếu cán bộ ở lại chiến trường sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Căn cứ yêu cầu phát triển công tác tuyên truyền vận động chính trị trong giai đoạn mới, ngày 30-01-1965 Thường vụ T.Ư Cục ra quyết định củng cố, mở rộng Ban THT.Ư Cục với các bộ phận Tuyên (Tuyên truyền huấn học), Văn (văn hóa, văn nghệ), Giáo (giáo dục), Báo (báo, đài phát thanh, thông tấn xã) và Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc miền nam.

Lực lượng chi viện trở thành nòng cốt của Ban THT.Ư Cục gồm cán bộ lý luận như: Trần Trọng Tân, Võ Quang Trinh, Năm Quảng, Hà Phú Thuận; các nhà báo như: Thép Mới, Tuất Việt, Đinh Phong (Báo Nhân Dân); các nhà văn, nhạc sĩ như: Nguyễn Văn Bổng, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Việt; cán bộ điện ảnh như: Mai Lộc, Trịnh Mai Diêm. Còn phải kể đến nhiều đoàn cán bộ trẻ vừa tốt nghiệp các trường đại học ở Hà Nội được tuyển chọn bổ sung cho tuyên huấn các khu ủy Trị Thiên, khu V và Ban THT.Ư Cục. Trong số cán bộ trẻ đó có nhà thơ Lê Anh Xuân (cùng Đoàn K33 có Nguyễn Khoa Điềm vào khu ủy Trị Thiên - Huế), sau này có Phạm Quang Nghị (hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội) tăng cường cho Ban THT.Ư Cục. Nhiều người trong số họ đã hy sinh tại chiến trường.

Trong kháng chiến, công tác tư tưởng chính trị là mặt trận hàng đầu đi trước một bước, góp phần quyết định tạo nên phong trào cách mạng. Chấp hành chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ T.Ư Cục, Ban THT.Ư Cục đã chủ động sáng tạo, nghiên cứu tình hình, đề ra chủ trương, phương hướng công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng trong và ngoài Đảng, công tác văn hóa, giáo dục quần chúng; biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác tuyên truyền cho cấp dưới; chỉ đạo nghiệp vụ cho ngành tuyên huấn các cấp, đào tạo cán bộ cơ sở. Đặc biệt, Ban đã tham mưu kịp thời, sát đúng về công tác chính trị tư tưởng trong từng giai đoạn cách mạng, nhất là những thời điểm bước ngoặt của cách mạng miền nam: chống chiến tranh đặc biệt, chống chiến tranh cục bộ, chống chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và cách mạng miền nam sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri...

Cán bộ là gốc của công cuộc kháng chiến. Dù địch đánh phá ác liệt, Ban vẫn xây dựng được Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc miền nam, Trường Tuyên huấn miền nam, đào tạo cán bộ cho khu ủy, tỉnh ủy, cán bộ cho ngành tuyên huấn địa phương Nam Bộ. Cuối năm 1961, ngay những ngày đầu mới thành lập, Trường Nguyễn Ái Quốc miền nam đã khai giảng khóa đầu tiên đào tạo lý luận trung cao cấp. Hơn 80 đại biểu và 300 học viên đã về dự. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư T.Ư Cục đã chỉ đạo lớp học. Trải qua 14 năm hoạt động, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc miền nam đã đào tạo sáu khóa với hơn 1.000 học viên.

Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) với truyền thống "cần cù, dũng cảm, tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ" - "làn sóng điện không bao giờ tắt" đã liên tục phát đi những bản tin chiến thắng, những bài viết về kinh nghiệm đấu tranh của đồng bào miền nam, cổ vũ khí thế ngày càng lớn mạnh của cách mạng miền nam, làm nức lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

Tạp chí Tiền Phong (thuộc Tiểu Ban huấn học) là tạp chí chính trị - lý luận của Đảng, mỗi tháng ra một kỳ nhằm nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ đảng viên về các chủ trương chính sách của Đảng, các kinh nghiệm chỉ đạo phong trào. Tạp chí Thời Sự Nhân Dân (thuộc Tiểu Ban tuyên truyền) phổ biến kinh nghiệm công tác vận động quần chúng cho cán bộ cơ sở, phương thức đấu tranh ba mũi giáp công, phá ấp chiến lược giành quyền làm chủ ở nông thôn, đấu tranh chính trị ở đô thị.

Báo Giải Phóng ra số đầu tiên ngày 20-12-1964 liên tục nửa tháng một kỳ. Nội dung xuyên suốt là tuyên truyền, cổ vũ, khích lệ, tổ chức quần chúng nhân dân miền nam chống Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, mở rộng mặt trận đoàn kết trong nước và tranh thủ sự đồng tình của quốc tế. Báo gửi qua đường giao liên tới các khu ủy, tỉnh ủy và vào tận đô thị Sài Gòn. Trong cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhà báo Thép Mới là Tổng Biên tập báo Giải Phóng cùng nhiều phóng viên đã trực tiếp đi vào nội thành Sài Gòn. Những bài viết nóng hổi về khí thế tiến công Mậu Thân của nhà báo Thép Mới đã kịp thời chuyển ra bắc đăng trên Báo Nhân Dân.

Trong kháng chiến, "báo nói" có tác dụng và ảnh hưởng lớn nhất. Đài phát thanh Giải Phóng chính thức phát sóng ngày 11-2-1962 và trở thành đài phát thanh cả tiếng Việt, tiếng Anh, Pháp, Quảng Đông, Triều Châu. Đài có đóng góp quan trọng cổ vũ khích lệ quân và dân đẩy mạnh thi đua giết giặc lập công."Tìm Mỹ mà diệt, tìm ngụy mà đánh", thi đua giành danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Đài phát thanh Giải Phóng đã phối hợp chặt chẽ với đài phát thanh Giải Phóng trên đất bắc (CP90), do đó suốt 14 năm kháng chiến ác liệt, làn sóng điện của đài Giải Phóng vẫn truyền đi liên tục, động viên cổ vũ tinh thần đấu tranh của quân dân miền nam.

Ra đời cùng với đài phát thanh Giải Phóng, Tiểu ban Văn nghệ và Đoàn Văn công Giải phóng đã sáng tác và biểu diễn nhiều tác phẩm văn học, âm nhạc cách mạng. Nhiều tác phẩm, tác giả sống mãi với thời gian. Văn học nghệ thuật giải phóng rất phong phú, ở các lĩnh vực như văn học, hội họa, điện ảnh, kịch, cải lương, múa. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng với Rừng U Minh, Anh Đức với Hòn Đất, Nguyễn Quang Sáng với tập truyện ngắn Chiếc lược ngà, Hoàng Việt với giao hưởng Cửu Long giang, Trần Đình Vân với Sống như Anh. Đoàn văn công Giải phóng từ chiến khu đã lưu diễn nhiều nước trên thế giới. Điện ảnh Giải phóng dự nhiều liên hoan phim quốc tế ở Liên Xô, CHDC Đức, Ba Lan, Pháp.

Thành lập 1962, Xưởng phim Giải Phóng sản xuất hơn 120 phim tài liệu, phóng sự chiến tranh, tái hiện những hình ảnh hào hùng của quân dân miền nam chống Mỹ - ngụy. Xưởng phim Giải Phóng đã đoạt sáu giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, sáu giải Bông Sen Vàng, bốn giải Bông Sen Bạc, 12 giải quốc tế trong đó có hai Huy chương vàng trong liên hoan phim quốc tế tổ chức ở Liên Xô.

Ban THT.Ư Cục đã tham mưu và trực tiếp thực hiện nhiều hoạt động thông tin đối ngoại. Ban đã tổ chức đón tiếp nhà báo Uyn-phơ-rết Bớc-séc (Ô-xtrây-li-a), nữ nhà báo Ma-đơ-len Ríp-phô (Pháp), đoàn nhà báo Liên Xô, Cu-ba, Ba Lan, Trung Quốc, đón đoàn làm phim tài liệu của Tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Ru-xen điều tra tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền nam Việt Nam, đón đoàn đồng chí Van-đéc Vi-vô, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Cu-ba, đại sứ Cu-ba tại MNVN (3-1969).

Cán bộ, nhân viên Ban THT.Ư Cục không chỉ là chiến sĩ trung thành trên mặt trận tư tưởng chính trị, mà thật sự là chiến sĩ chiến đấu dũng cảm trên chiến trường ác liệt, bảo vệ an toàn căn cứ, đóng góp nhân lực cho lực lượng vũ trang Miền, tham gia chiến dịch, chiến đấu trên các mặt trận.

 

 
  http://codotphcm.com/images/photos/tang%20huan%20chuong.jpg


Năm 1964, Ban đã điều động 800 thanh niên từ các đơn vị thuộc Ban bổ sung vào lực lượng vũ trang, xây dựng Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 (Sư đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường miền nam). Cũng năm 1964, từ căn cứ Tây Ninh, Ban đã cử nhiều đoàn xuống địa phương tuyển quân và hành quân về Thạnh Phú - Bến Tre vận chuyển vũ khí của "Đoàn tàu không số" từ miền bắc vào.

 

Tháng 4-1967, quân Mỹ mở cuộc hành quân Giăng-xơn Xi-ty nhằm tiêu diệt cơ quan trọng yếu của T.Ư Cục và Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam, Bộ Chỉ huy Miền. Ban đã chủ động tổ chức lực lượng du kích cơ quan chiến đấu. Tại lễ tuyên dương dũng sĩ diệt Mỹ trong trận càn Giăng-xơn Xi-ty, Ban THT.Ư Cục là một đơn vị có thành tích cao nhất trong các cơ quan T.Ư Cục, tiêu diệt hơn 100 quân Mỹ, diệt 20 xe tăng và xe bọc thép M113, hơn 40 chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt cơ giới, Dũng sĩ diệt Mỹ. Lực lượng tự vệ Ban được tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.

Năm 1968, Ban tổ chức lực lượng cán bộ, kỹ thuật viên, phóng viên, quay phim, họa sĩ, các đội tuyên truyền vũ trang đồng loạt tham gia trận đánh Tết Mậu Thân 1968. Đoàn cán bộ của Ban cùng các đơn vị mũi nhọn đánh vào nội thành. Cán bộ, chiến sĩ, văn nghệ sĩ của Ban cùng với các chiến sĩ quân giải phóng đã chiến đấu quả cảm, hy sinh anh dũng. Một số phóng viên và nhân viên của báo Giải Phóng xuống mặt trận Sài Gòn được bổ sung vào đội tuyên truyền võ trang Sài Gòn, đã chiến đấu dũng cảm, lập nhiều thành tích vẻ vang. Một số phóng viên chiến trường của báo Giải Phóng như: Cảnh Hân, Quốc Hùng, Trần Huân, Đăng Sơn đã anh dũng hy sinh trên đường phố Sài Gòn.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975, Ban đã huy động tất cả lực lượng chuyên môn theo các mũi tiến công của các cánh quân tiến vào Sài Gòn, vừa tác nghiệp vừa tiếp quản mục tiêu được phân công.

Ban THT.Ư Cục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Tổ quốc giao phó trong mọi tình huống ác liệt của cuộc chiến tranh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Vừa công tác, vừa chiến đấu, Ban THT.Ư Cục có 548 liệt sĩ, 353 thương binh, hàng trăm chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ và Anh hùng LLVT nhân dân. Nhiều cán bộ chuyên viên, nhà giáo, cán bộ khoa học kỹ thuật cấp cao và văn nghệ sĩ nổi tiếng được tặng các phần thưởng cao quý. Ba cơ quan thuộc Ban THT.Ư Cục là Thông tấn xã Giải phóng,Nhà in Trần Phú, Điện ảnh Giải phóng đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Tháng 01-2015, Ban THT.Ư Cục MN đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Nguồn: Báo Nhân Dân

Cờ đỏ Tp. Hồ Chí Minh

Trích đăng từ bài viết “Ban tuyên huấn Trung ương Cục miền nam – Một chặng đường vẻ vang” - trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)