Biên tập viên

Biên tập viên

Tóm tắt: tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong tháng 10 – 1947, tại Việt Bắc với bút danh X.Y.Z. Mục đích của tác phẩm là kịp thời chỉnh đốn Đảng; phê bình, kịp thời sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế trong lối làm việc của cán bộ cách mạng. Tác phẩm hàm chứa những nội dụng sâu sắc, toàn diện về công tác cán bộ, trong đó có nội dung bố trí, sử dụng cán bộ. Bài viết tập trung phân tích làm nổi bật cách thức, phương pháp bố trí, sử dụng cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hiểu cán bộ để nhận diện cán bộ; bố trí, sử dụng cán bộ gắn với kiểm tra, kiểm soát và phê bình cán bộ để giúp nhau tiến bộ, qua đó làm rõ hơn cơ sở nhận thức và hành động để mỗi cá nhân, đơn vị, tổ chức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt trong điều kiện hiện nay cả hệ thống chính trị đang thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Bố trí, sử dụng cán bộ luôn là nội dung quan trọng công tác cán bộ, bởi lẽ, có lựa chọn, bố trí đúng mới phát huy khả năng, sở trường của cán bộ, công việc được giao mới hoàn thành và sự nghiệp cách mạng mới thành công. Những năm qua, Đảng ta có nhiều chủ trương, chiến lược về công tác cán bộ, trong đó có bố trí, sử dụng cán bộ đúng người, đúng việc, gắn với yêu cầu và tình hình phát triển đất nước. Tuy nhiên, thực tế, có lúc, có nơi biểu hiện bố trí, sử dụng cán bộ còn còn chưa hiểu khả năng, sở trường của cán bộ; nể nang, cục bộ, bè phái trong bố trí, sử dụng cán bộ nên hiệu quả công việc chưa cao; thậm chí một bộ phận cán bộ trong quá trình phấn đấu thể hiện rất tốt khả năng, sở trường nhưng khi được cất nhắc, bổ nhiệm rồi lại rơi vào suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tha hóa, xa rời quần chúng nhân dân.

Để khắc phục hiện tượng trên, cần nghiêm túc học tập, nghiên cứu và thực hiện tư tưởng, chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bố trí, sử dụng cán bộ trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

1. Hiểu cán bộ, sử dụng cán bộ

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta gồm có hàng triệu người, hàng vạn cán bộ. Trong đó, sĩ, công, nông, thương, binh đều có. Từng lớp xã hội khác nhau, trình độ văn hóa khác nhau; tính tình cá nhân cũng không giống hệt.

Sao cho đối đãi đúng với mọi người? Đó là một vấn đề rất trọng yếu. Vì vậy, chúng ta cần phải chú ý mấy việc dưới đây:

Hiểu biết cán bộ,

Khéo dùng cán bộ,

Cất nhắc cán bộ,

Thương yêu cán bộ,

Phê bình cán bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ, trước hết phải hiểu cán bộ, chọn cán bộ cho đúng người, đúng việc. Người cán bộ phải có phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hăng hái trong học tập, trong làm việc, đi đầu trong phong trào cách mạng, luôn biết giữ đúng kỷ luật; đồng thời, trọng nhân tài, trọng cán bộ. Để kiểm chứng những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ nhằm bố trí, sử dụng người, đúng việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy những nguyên tắc, phương pháp, cách thức lựa chọn cán bộ:

Một là, nhận diện cán bộ để bố trí, sử dụng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn xem xét quy hoạch, đề bạt bổ nhiệm cán bộ cần nhận diện cán bộ nào là tốt, cán bộ nào chưa tốt để giúp đỡ họ. Cụ thể:

- “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy học làm được việc cũng không phải cán bộ tốt”.

- “Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt. Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chỗ xấu của họ”.

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nhận diện cán bộ tốt, cán bộ chưa tốt không phải bằng nhìn bề ngoài, nghe lời nói mà phải thông qua việc làm. Thông qua cách làm này nhận diện ra những cán bộ nào không có thái độ tốt với tổ chức, với công việc: Hay chọn việc dễ, tránh việc khó; nói không đi đôi với làm; a dua, không có lập trường, hay cuốn theo dư luận, rơi vào lợi ích cá nhân cục bộ, bè phái… Những cán bộ này, cần phải được giáo dục, rèn luyện. Những cán bộ có thái độ làm việc tích cực với công việc: Thống nhất giữa nói và làm; không chọn việc dễ, tránh việc khó, cần cù, trung thành với mục tiêu, lợi ích của tổ chức… Những cán bộ này cần bồi dưỡng, nâng đỡ họ để quy hoạch, đào tạo, đề bạt bổ nhiệm, giao việc để nâng cao năng lực.

Hai là, sửa chữa khuyết điểm bản thân để nhận diện cán bộ tốt, cán bộ chưa tốt

Để nhận diện cán bộ tốt, xấu theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước tiên phải biết tự đánh giá, phê bình và chủ động sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế của mình. Người răn dạy:

“Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình, cũng không phải dễ.

Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”.

Do con người nhân vô thập toàn và cũng thường mắc những căn bệnh tự cao tự đại, luôn cho mình là đúng, là tốt, hay thỏa mãn với thành tích nên Người thường nhắc nhở:

“Người ta thường phạm những chứng bệnh sau này:

1. Tự cao tự đại,

2. Ưa người ta nịnh mình,

3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người,

4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau.

Như vậy, để nhận diện cán bộ tốt, chưa tốt, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước tiên cần phải sửa chữa khuyết điểm của bản thân. Công cụ tốt nhất để làm công việc này là phải thường xuyên thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Chỉ có tự phê bình và lắng nghe, tiếp thu ý kiến của đồng chí, đồng nghiệp phê bình trong tổ chức thì mới sửa được mình.

Ba là, xem xét, nhận diện cán bộ tốt, cán bộ chưa tốt trên nguyên tắc khách quan, gắn với quy luật phát triển

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, khi xem xét cán bộ tốt, chưa tốt thì phải có nguyên tắc, phải thấy được quy luật phát triển:

- Xem xét trong bối cảnh, hoàn cảnh và quá trình vận động. Người khẳng định: “Một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm, nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau”.

- “Xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ”.

- Giữ tính khách quan để nhận diện cán bộ. Để giữ tính khách quan trong xem xét cán bộ nhằm quy hoạch, đề bạt, cất nhắc, giao việc cần xem xét cụ thể, tỉ mỉ từng trường hợp:

+ Xem xét cách thức, thái độ của họ với công việc, từ việc nhỏ tới việc lớn, gồm: Thái độ của họ đối với công việc, kết quả cuối cùng của công việc được giao. Cách làm này sẽ đánh giá cả quá trình làm việc của cán bộ, biết rõ bản chất của họ; nhận diện được cán bộ có động cơ không tốt.

+ Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, cất nhắc cán bộ, đồng thời công khai, minh bạch để mọi người đều biết. Cách làm này có tác dụng: Loại bỏ được tính chủ quan trong đề bạt, bổ nhiệm; tạo môi trường lành mạnh cho những cán bộ có phẩm chất, năng lực được nhìn nhận, đánh giá, giao việc, cất nhắc; loại bỏ được những cán bộ xấu, xu nịnh, làm ít, nói nhiều…

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh việc bố trí, sử dụng cán bộ luôn đặt trong cặp đôi: Người sử dụng và người được sử dụng. Người sử dụng luôn luôn phải sửa mình để có quan điểm, cách thức để cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, giúp đỡ được cán bộ tốt, đạt đúng mục tiêu của tổ chức; người được sử dụng khi được cất nhắc, đề bạt lại càng cần có ý thức tu dưỡng, phấn đấu, học tập, sửa chữa những khuyết điểm của mình, mau tiến bộ, có ích cho tổ chức.

2. Bố trí, sử dụng gắn với kiểm tra, kiểm soát và phê bình cán bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi bố trí sử dụng cán bộ, việc đầu tiên là nhận diện cán bộ tốt, chưa tốt, song để lựa chọn, giáo dục, rèn luyện, bố trí, sử dụng, công việc tiếp theo là phải kiểm tra, kiểm soát cán bộ để giúp nhau tiến bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác kiểm tra, kiểm soát cán bộ. Người viết: “Kiểm soát cách thế nào? Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ… Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ dẫn phương pháp, cách thức và điều kiện thực hiện công việc kiểm soát:

- Kiểm soát từ trên xuống, nghĩa là người lãnh đạo kiểm soát kết quả, hiệu quả công việc của cán bộ;

- Kiểm soát từ dười lên, tức là quần chúng nhân dân, cấp dưới kiểm soát sai lầm của lãnh đạo và bày tỏ cách thức sửa chữa sai lầm đó;

- Kiểm soát phải có hệ thống, thường xuyên; người làm công việc kiểm soát phải là người có uy tín cao.

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh việc kiểm tra, kiểm soát cán bộ có vị trí vô cùng quan trọng, vì trong quá trình thực hiện công việc, do những lý do chủ quan, khách quan khác nhau, cán bộ có vi phạm khuyết điểm. Nếu không thực hiện kiểm tra, kiểm soát sẽ cộng những khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm lớn, gây nguy hại cho cán bộ, tổ chức, cho Đảng; hoặc kiểm tra, kiểm soát sẽ cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành ưu điểm lớn, từ đó khích lệ, động viên cán bộ, tổ chức phát huy những ưu điểm, có lợi cho cán bộ, tổ chức, cho Đảng.

Bên cạnh việc kiểm tra, kiểm soát thì công việc tự phê bình và phê bình cũng là công việc thường xuyên, liên tục giúp nhau tiến bộ. Mục tiêu của phê bình cốt để giúp nhau cùng tiến bộ, để làm việc tốt hơn, để đoàn kết, thống nhất nội bộ. Việc tự phê bình và phê bình phải được coi như đánh răng, rửa mặt; cơm ăn, nước uống hàng ngày để giúp nhau cùng tiến bộ. Phê bình và tự phê bình là thang thuốc tự chữa lành vết thương; hay để tự nhận ra mình, giúp cán bộ mình xem xét, đánh giá lẫn nhau, giúp nhau khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong phê bình và tự phê bình cán bộ, đảng viên của mình, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm chọc. Phê bình việc làm, chứ không phê bình người; đồng thời người bị phê bình phải cầu thị, vui lòng nhận những lời nhận xét phê bình để sửa chữa.

Có thể khẳng định, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc bố trí, sử dụng cán bộ trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc không chỉ định hướng cho mỗi cán bộ, đảng viên mà cung cấp cho thế hệ sau phương pháp nhận diện, đánh giá, sử dụng cán bộ trong điều kiện, bối cảnh mới.

Vũ Văn Hậu

Trích đăng từ Tạp chí giáo dục lý luận (Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 01/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

 

Trong Di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Người đã viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

1 - Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

2 - Cán bộ của Ðảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

3 - Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương.

4 - Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không.

5 - Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Ðảng. Mọi công tác của Ðảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

6 - Mỗi công việc của Ðảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng.

7 - Mỗi công việc của Ðảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát. Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường với lợi ích lâu dài của dân chúng.

8 - Ðảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Ðảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên.

9 - Ðảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

10 - Ðảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài.

11 - Ðảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới.

Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí.

Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Ðảng.

12 - Ðảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Ðảng.

Muốn cho Ðảng được vững bền Mười hai điều ấy chớ quên điều nào"

Ngày nay, thấm nhuần lời dạy sâu sắc đó của chủ tịch Hồ Chính, Đảng ta đang nỗ lực cùng với Nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giúp cho tổ chức Đảng gần dân hơn, gắn bó mật thiết với nhân dân hơn.

Vì vậy, vấn đề đặt ra là Đảng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn những vấn đề về Đảng và công tác xây dựng Đảng. Có như thế chúng ta mới làm cho Đảng mạnh hơn, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Đảng không bị tụt hậu với thời cuộc, làm cho Đảng luôn luôn ở tầm cao của thời cuộc./.

Trích đăng trang thông tin điện tử Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 10/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới đạo đức, đạo đức cách mạng. Sự quan tâm đó nhất quán, xuyên suốt từ lúc Người ra đi tìm đường cứu nước cho đến tận cuối đời. Hồ Chí Minh cũng là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Thống kê di sản Hồ Chí Minh, có khoảng 50 bài nói và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức, đạo đức cách mạng, trong đó tác phẩm “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), số 12 năm 1958 dưới bút danh Trần Lực là một tác phẩm tiêu biểu. 60 năm đã đi qua, quan điểm: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng về đạo đức cách mạng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” được nêu trong tác phẩm còn vẹn nguyên giá trị, có ý nghĩa với lịch sử, hiện tại và tương lai.

Không phải ngẫu nhiên, ngay những trang đầu của tác phẩm Đường cách mệnh – tác phẩm “gối đầu giường” của những người cách mạng Việt Nam được xuất bản năm 1927, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giành những luận bàn đầu tiên về Tư cách một người cách mệnh, sau đó mới bàn về lý luận đường lối cách mạng, Người yêu cầu, người cách mạng phải cần, kiệm, giữ chủ nghĩa cho vững, phải biết hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất, không ngại gian khổ khó khăn, thậm chí hy sinh cả tính mạng của mình cho sự nghiệp chung. Người cách mạng phải rất khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, cả quyết sửa lỗi mình, cẩn thận mà không nhút nhát, nếu thấy việc đúng thì phải quyết tâm làm và phải chịu trách nhiệm trước việc mình làm. Quần chúng tin và làm theo cách mạng trước hết họ tâm phục đạo đức, gương hy sinh của người cách mạng.

Về sau này, trong các tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Đạo đức cách mạng (1955), Người cán bộ cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), Di chúc (1969)… Hồ Chí Minh đều phân tích và chỉ rõ, đạo đức là nguồn gốc nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông, suối. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”

Làm cách mạng là một việc lớn, một sự nghiệp vẻ vang nên càng phải có sức mạnh. Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Bởi vậy, Người yêu cầu: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính… Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không”.

Theo Hồ Chí Minh, có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Khi cần, thì sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Hồ Chí Minh nói: “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”.

Bên cạnh những kiến giải, vì sao “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng” được Hồ Chí Minh chỉ rõ trong các tác phẩm tiêu biểu nêu trên, qua nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy, Người thường nhắc tới các lý do cơ bản sau:

Một là, sự nghiệp giành, giữ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp cách mạng to lớn, rất khó khăn, chưa từng có trong lịch sử, để hoàn thành sự nghiệp to lớn, vĩ đại này, đòi hỏi sự lỗ lực, phấn đấu, không chỉ một mà cần đến nhiều thế hệ tận trung với nước, tận hiếu với dân đoàn kết, đồng sức, đồng lòng kiến tạo, dựng xây. “Chúng ta ta cần phải biết rằng: những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được mới chỉ là bước đầu trên đường đi muôn dặm. Chúng ta phải tiến lên, cách mạng phải tiến lên nữa. Nếu không tiến, tức là thoái. Và nếu thoái thì những thắng lợi đã đạt được sẽ không thể củng cố và phát triển”.

Hai là, kẻ thù của cách mạng Việt Nam là những tên phong kiến, thực dân đế quốc gian ác, với nhiều âm mưu xảo quyệt. Chúng ta không thể hy vọng, chông chờ vào lòng tốt, không xin giặc “rủ lòng thương” để có độc lập cho Tổ quốc và tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Để đạt được mục tiêu này, chỉ có thể thông qua con đường đấu tranh cách mạng, chiến đấu giành lấy với quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, trong đó, trước hết người cách mạng phải nêu cao đạo đức cách mạng. “Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh phải lâu dài và gian khổ. Cần có người cách mạng là vì còn có kẻ địch chống lại cách mạng”.

Ba là, bản chất chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng, khoa học và nhân văn. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin đòi hỏi mỗi người phải có quyết tâm cách mạng, tri thức khoa học, có cái tâm trong sáng, đạo đức cao đẹp. Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn không có tách rời nhau. Tính khoa học bao hàm trong nó tính cách mạng, bởi lẽ tính khoa học đòi hỏi phải chỉ ra được quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử. Tính khoa học triệt để còn đòi hỏi phải đấu tranh chống lại mọi lạc hậu, phản động, bảo thủ, chống lại áp bức, bất công, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Vì thế, tự bản thân nó càng toát lên tính nhân văn. Đồng thời, tính cách mạng trong chủ nghĩa Mác đã bao hàm trong nó có tính khoa học, tính nhân văn bởi để chống lại xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xây dựng con người mới thì phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, tức phải dựa vào khoa học.

Bốn là, lịch sử nhân loại đã nhiều lần chứng kiến những câu chuyện rất đau lòng, những phòng khí độc do các kiến trúc sư hàng đầu kiến tạo ra, trẻ em bị các bác sĩ có trình độ cao hạ độc, trẻ em sơ sinh bị các y tá được huấn luyện sát hại… trong các trại tập trung của Đức Quốc xã hồi đầu thập niên 1940… Điều này cho thấy, tài năng, trí thức càng nhiều mà đạo đức căn bản lại thiếu hoặc không có thì con người ta lại càng nguy hại đối với nhân loại và thiên nhiên. Hồ Chí Minh viết: “Có tài mà không có đức là hỏng… Đức phải có trước tài”. Ngày nay, nhân loại đề cao sự tôn trọng, trân quý sinh mệnh con người, mọi sự nghiệp giải phóng xét đến cùng đều vì con người nhằm giải phóng con người. Vì vậy, thực hành đạo đức hàng ngày, tu dưỡng đạo đức suốt đời là cần thiết, phải trở thành nhu cầu, mục đích, yêu cầu tự thân của mỗi người nói chung, và trở thành nguyên tắc xây dựng, thực hành đạo đức cách mạng của người cách mạng chân chính nói riêng.

Đạo đức cách mạng là yêu cầu quan trọng hàng đầu cần phải có, làm gốc để chúng ta hiện thực hóa quyết tâm, mục tiêu, lý tưởng của mình. Chúng ta đã cất công, đã gian khổ, hy sinh làm cách mạng thì quyết làm cách mạng triệt để, đến nơi nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

 Sau khi xác định rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên, cán bộ phải không ngừng tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng bao gồm Trung với nước, hếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; thương yêu con người, sống có tình nghĩa; có tinh thần quốc tế trong sáng. Giáo sư Trần Văn Giàu viết “Cho phép tôi hiểu rằng tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực hay là ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay lựa chọn mới lạ, mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật đang phải sống trên quả đất này và chắc còn phải sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi sự suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó; vì đó mà Cụ lớn”.

Đặc biệt, không chỉ phân tích và nêu rõ những yêu cầu phẩm chất của người cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu cần phải xây dựng đạo đức cho tổ chức tiền phong của giai cấp, của cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng Cộng sản trước hết phải là một đảng tiêu biểu cho đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.

Có thể khẳng định, trong số ít các lãnh tụ cộng sản trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ sớm đã tiên lượng, dự báo được xác đáng những nguy cơ, thách thức có thể xảy đến đối với một đảng cầm quyền, Đảng rất có thể lạm quyền, thậm chí chuyên quyền, độc đoán “nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Cán bộ từ làng cho đến Chính phủ Trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân”. Cán bộ trong công sở là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Họ “đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

“Lòng dạ”, Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây, có thể hiểu là đạo đức, lương tâm của Đảng nói chung, của người Cộng sản nói riêng. Một khi lòng dạ không còn trong sáng, tức là cái đức, cái tâm đã bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, bị vẩn đục, bị bôi đen, thì không thể giáo dục, lãnh đạo, dẫn dắt được quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh ân cần căn dặn đảng viên, cán bộ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Làm người lãnh đạo mà thiếu tư cách đạo đức, thiếu lương tâm trong sạch, lại còn “sa vào chủ nghĩa cá nhân” thì không những không được quần chúng tin yêu, mà còn bị họ xa lánh, ghét bỏ. Là người nắm giữ vị trí cao nhất của Đảng và Nhà nước, Người luôn sống và làm việc một cách giản dị, trở thành một tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân, thế giới ca ngợi không chỉ ở những việc lớn mà ngay từ những việc nhỏ, những việc nhỏ nhưng vô cùng vĩ đại, một con người vĩ đại từ những việc bình thường. Xin được dẫn lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi nhớ lại ấn tượng sâu sắc lần đầu tiên gặp Bác Hồ: “Khi gặp Bác, nay nhớ lại, tôi không thấy một vẻ gì lạ hoặc đặc biệt, như trước đây tôi hằng tưởng tượng, mà chỉ thấy, chỉ gặp một phong cách, một cảm tưởng trong sáng, giản dị mà cho mãi về sau này, trong công tác trực tiếp với Bác, cái phong cách trong sáng, giản dị ấy ở Bác, tôi vẫn giữ được một cảm giác nguyên như ngày mới gặp”. Và khi thời gian càng lùi xa, nghĩ suy về cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, về tấm gương đạo đức sáng ngời của Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm nhuần một lẽ: “Giản dị là điều khó nhất trên đời: đó là sự giới hạn tột cùng của sự từng trải và là lỗ lực cuối cùng của thiên tài”.

“Lên mặt làm quan cách mạng”, quan liêu, xa dân, mất lòng tin nơi quần chúng, nhân dân; tham ô, lãng phí, hủ hóa… là những nguy cơ và thách thức lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đã cảnh báo và yêu cầu đảng cộng sản cầm quyền phải nhận thức thấu đáo, phải có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, nếu không muốn vị thế của mình bị lung lay từ gốc rễ. Đảng cần tự thân chăm lo, xây dựng Đảng về đạo đức, đồng thời, Đảng cần phải chăm lo, giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo và bồi dưỡng họ thành những người xứng đáng kế thừa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bên cạnh đó, khi xác định “Đảng là đạo đức, là văn minh”, Hồ Chí Minh chỉ rõ cho chúng ta thấy tầm quan trọng của đạo đức đối với tổ chức, coi đó là đặc trưng, là yêu cầu, nhiệm vụ lớn trong xây dựng một chính đảng cách mạng. Bởi với Người: “… chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”. Như vậy, Hồ Chí Minh đã đưa yếu tố đạo đức vào trong chính trị, chính trị gắn liền với đạo đức và văn hóa.

Nhận thức sâu sắc được vai trò, ý nghĩa to lớn của tư tưởng đạo đức nói chung, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cách mạng nói riêng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 15/5/2016), làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần to lớn, vững chắc trong đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TW của ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII (ban hành ngày 30/10/2016) đã thẳng thắn chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm: Tư tưởng – chính trị, đạo đức – lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trở thành như là “tấm gương” để đảng viên, cán bộ tự soi vào, thẳng thắn nhìn nhận, sửa chữa; bền bỉ rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng.

Chúng ta trân trọng quá khứ, giữ gìn, bảo vệ những thắng lợi vẻ vang và những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam trong suốt 88 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về điều này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Mặc dù còn không ít khó khăn, thách thức nhưng chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ như ngày nay”. Giành được những chiến thắng vĩ đại, đạt được những thành tựu to lớn đó, đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu, chiến đấu, hy sinh… không chỉ một mà nhiều thế hệ những người cách mạng đã giữ vững đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, đoàn kết, thống nhất, sáng suốt lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta kiến tạo, xây dựng nhà nước. Ngày nay, được kế tục sự nghiệp to lớn này, chúng ta càng tin tưởng, tự hào, không “Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người” như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước và tin tưởng.

Phạm Tăng Tuấn**- Nguyễn Nam Thắng***

Trích đăng từ Tạp chí giáo dục lý luận (Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 01/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      Vào lúc 9 giờ 30 phút sáng ngày 06/12/2018. Hội Chữ thập đỏ phường 15 quận Tân Bình phối hợp nhà tài trợ tổ chức trao tặng 01 căn nhà tình thương cho hộ nghèo Nguyễn Thị Vân, số nhà 45/26 Trần Thái Tông, khu phố 8, phường 15, quận Tân Bình.

     Đến tham dự buổi trao tặng nhà có Ông Đỗ Văn Ánh – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Quận Tân Bình, Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân – Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường 15, các Ông Bà trong Ban điều hành khu phố 8,  Ban chấp hành Hội Chữ thập đỏ. Đặc biệt có sự hiện diện của Ông Nguyễn Văn Hậu – Tổng giám đốc Công Ty HT.REAL – Là Nhà tài trợ chính xây dựng căn nhà tình thương cho gia đình Bà Vân.  

20181206085950
20181206090025
20181206093138
20181206093747
20181206095606

     Được tận mắt chứng kiến 01 căn nhà mới khang trang sạch đẹp, so với căn nhà cấp 4 lụp xụp trước đây ai cũng thấy cảm động vì sự đổi thay kỳ diệu. Đó là nhờ sự kết nối và điều phối hiệu quả giữa Hội Chữ thập đỏ phường 15 với nhà hảo tâm là Công Ty HT.REAL. Đặc biệt là sự nỗ lực của Chị Phạm Thị Hồng Lan Chi hội trưởng khu phố 12 vừa là cầu nối với nhà hảo tâm, vừa là người đứng ra lo việc mua vật tư thuê nhân công xây nhà. Kết quả sau gần 3 tháng vất vả có được 01 căn nhà mới khang trang đầy đủ tiện nghi như hôm nay. Trong buổi trao tặng nhà, gia đình Bà Vân còn nhận được rất nhiều quà như: tivi, quạt máy, bếp ga…và tiền mặt từ UBND phường 15; Các Chi hội trưởng Chữ thập đỏ các khu phố bạn và đại diện BĐH khu phố 8. Tổng trị giá căn nhà là 70.000.000đồng; Quà và tiền mặt là 10.000.000đồng. Bà Vân đại diện gia đình xúc động gởi lời cảm ơn đến nhà tài trợ và Hội Chữ thập đỏ. 

          Buổi trao tặng nhà tình thương tại Phường 15 đã diễn ra thành công tốt đẹp, và kết thúc lúc 10 giờ 30 phút cùng ngày.      

                                                                     Hội Chữ thập đỏ Phường 15

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, cả trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TTVH) là một “mũi đột phá” và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Trong cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, R.Nixon đã xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!".

Thực hiện mũi tiến công trên lĩnh vực TTVH hiện nay, cùng với việc thực hiện những phương thức, thủ đoạn quen thuộc, các thế lực thù địch luôn quan tâm đổi mới cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện để cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của xã hội ta, nhằm đạt tới mục tiêu là xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong đó, chúng tập trung tiến công vào một số nội dung chủ yếu như:

Một là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: “Giải thể ý thức hệ cộng sản!". Chúng coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm chủ quan của Mác, đồng thời cho rằng, những người cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác, nên đã vận dụng một cách giáo điều, dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)! Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm!". Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học.

Hai là, tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại đều khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm! Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH!". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin!

Ba là, xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN; đồng thời, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản. Nhận rõ vai trò to lớn của văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, nhất là trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay; đồng thời, ra sức tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay.

Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ (VHVN) hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước, đối với VHVN, tìm cách lôi kéo các văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị “dân chủ”, “tự do” tư sản; làm tha hóa thế hệ trẻ bằng “văn hóa, tư tưởng, lối sống Mỹ”, nhằm tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển. Thông qua các quan hệ giao lưu văn hóa, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc, tán phát trên internet có nội dung phản động, đồi trụy. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta.

Bốn là, sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa TTVH, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam. Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các tờ báo và tạp chí tiếng Việt, các nhà xuất bản ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá ta trên mặt trận TTVH. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển hóa TTVH, thực hành “diễn biến hòa bình” đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với “giá rẻ”, mà hiệu quả đạt được lại cao, “một đô la cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng".

Để góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững trận địa tư tưởng vô sản; xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới, cần phải thực hiện tốt một số nội dung và biện pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trước hết và trên hết là do Đảng ta nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết cần tập trung: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng trong các văn kiện Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương khóa XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX, khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; thống nhất chương trình, nội dung học tập cho các đối tượng trong toàn xã hội; chống làm theo kiểu phong trào, hình thức, phô trương. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa yêu nước XHCN, lý tưởng cách mạng; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo ra sự “miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước các đòn tiến công về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản.

Hai là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và  nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.


Theo QĐND

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 06/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Cuối tháng 11-2018, các thế lực thù địch, phản động tán phát “Thư ngỏ” của Nguyễn Khắc Mai gửi đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nội dung bức thư xuyên tạc, bịa đặt, nói rằng: “Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam tôn trọng đa nguyên, mời gọi các chính Đảng cùng tham gia. Năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xóa bỏ Hiến pháp năm 1946 và khởi thảo Hiến pháp mới rất đậm dấu ấn mô hình Xô Viết và tư tưởng Diên An. Đến cuối đời, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đã từ bỏ lập trường chủ nghĩa cộng sản vì hai ông đã phát hiện chủ nghĩa cộng sản là một sai lầm của thời trẻ”… 

Trong “Thư ngỏ” cũng đồng thời đưa ra yêu sách “trên trời” mang tư tưởng đòi Đảng, Nhà nước ta phải thực hiện lại Hiến pháp năm 1946 và chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hủy bỏ hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phải đặc xá, trả tự do cho tất cả “tù nhân lương tâm” nhân dịp Tết Kỷ Hợi…

Bản chất của những nội dung đòi hỏi phi lý trong “Thư ngỏ” là lợi dụng những sự kiện chính trị - xã hội nhạy cảm diễn ra trong thời gian qua để xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sau đây là hai vấn đề căn bản đã bị xuyên tạc, bóp méo trong “Thư ngỏ”.

 

Thứ nhất, Nguyễn Khắc Mai đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật khi cho rằng, Hiến pháp năm 1946 có tinh thần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” và “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xóa bỏ Hiến pháp năm 1946 để xây dựng Hiến pháp 1959 theo mô hình Xô Viết và tư tưởng Diên An”. Thực tế, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 được Quốc hội Khóa I, Kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9-11-1946 gồm 7 chương, 70 điều, không có điều, chương nào thể hiện tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Đặc biệt, tại Điều thứ nhất, Chương I có ghi: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Hiến pháp 1946 ra đời đặt nền tảng cho quốc gia đi vào xây dựng một thể chế chính trị dân chủ được thiết lập vững chắc, với đầy đủ các cơ quan lập pháp, tư pháp và hành pháp, đoạn tuyệt với chế độ chính trị thực dân và quân chủ phong kiến. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ; khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và thiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân.

Năm 1954, trước sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội đất nước làm cho Hiến pháp 1946 không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước. Mặt khác, nhiều quy định của Hiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạng nước ta (miền Bắc lúc bấy giờ). Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Ban sửa đổi Hiến pháp với 28 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Ngày 1-4-1959, bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến. Đến ngày 31-12-1959, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khóa I đã thông qua bản Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1946; và ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố bản Hiến pháp năm 1959.

Mục tiêu của Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa, phát triển bản Hiến pháp năm 1946, tiếp tục khẳng định: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội; tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân; nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân; Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước, là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp”.

Hiến pháp năm 1959 thể hiện rõ bản chất một nhà nước kiểu mới - nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Trong nhà nước đó, tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân được hoà quyện chặt chẽ. Như vậy, những luận điệu trong “Thư ngỏ” có liên quan đến Hiến pháp năm 1946, 1959 và Chủ tịch Hồ Chí Minh là không có cơ sở.

Hai là, Nguyễn Khắc Mai cố tình hạ bệ lý luận khoa học, xuyên tạc các giai đoạn hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, cuộc đời C.Mác và Ph.Ăngghen nói riêng.

Trong “Thư ngỏ” đã có những lời lẽ vừa sai trái, vừa thô tục khi nói rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin thực ra là mớ hổ lốn, mà đám phản đồ hớp lấy những thứ cặn bã mà chính Mác và cả Ăngghen đã thải bỏ. Về lý tưởng cộng sản, hai ông ấy khẳng định đó chỉ là những ý nghĩ trẻ con lúc đầu đời và đã vứt bỏ lúc cuối đời. Mác tự mình chối bỏ cái gọi là chủ nghĩa Mác”. Đọc những lời lẽ trên, có thể khẳng định, tác giả của “Thư ngỏ” là người chưa từng đọc hoặc đọc nhưng không hiểu gì về các tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen. Thông qua các tác phẩm kinh điển cho thấy, cuộc đời của C.Mác và Ph.Ăngghen đều trải qua ba giai đoạn để đưa ra hệ thống lý luận khoa học, cách mạng.

Giai đoạn 1 (1841-1844): là giai đoạn hình thành tư tưởng triết học và bước quá độ từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản chủ nghĩa.

Đối với C.Mác: Trước 1841, C.Mác là tín đồ của đạo Kitô, ông khát khao vươn tới cái thiện. Năm 1841, C.Mác nhận bằng Tiến sĩ Triết học với luận án: “Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên Đêmôcrit và Epiquya”, bắt đầu thay đổi lập trường. Năm 1842, C.Mác bắt đầu công tác tại “Nhật báo sông Ranh”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gặp nhau và cộng tác viết nhiều bài trên tờ báo này. Thời kỳ này, hai ông chưa hoàn toàn đoạn tuyệt với quan điểm duy tâm. Năm 1843, C.Mác viết “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen” và tiếp xúc với phong trào công nhân; hoàn toàn chuyển sang lập trường chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. Đầu năm 1844, Mác phối hợp cùng Rugơ xuất bản tạp chí “Niên giám Pháp Đức”, ông viết “Bản thảo kinh tế - triết học”, đánh dấu bước hoàn thành chuyển biến về lập trường.

Đối với Ph.Ăngghen: Năm 1839, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu triết học, đặc biệt là triết học Hêghen. Năm 1841, ông đã tham dự những giờ giảng của Hêghen ở Béclin, tiếp thu tư tưởng triết học và từng bước rút ra những kết luận vô thần. Năm 1842, gặp C.Mác, cộng tác viết nhiều bài trên báo sông Ranh, thể hiện sự chuyển lập trường. Năm 1844, Ph.Ăngghen viết “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, chuyển biến hoàn toàn lập trường.

Giai đoạn 2 (1844-1848): Đây là thời kỳ xây dựng những nguyên lý cơ bản về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với sự ra đời của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Năm 1848 đã đánh dấu hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, một thế giới quan triết học mới ra đời.

Giai đoạn 3 (1848-1895): Đây là giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình và đưa học thuyết Mác vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân cho đến khi Ph.Ăngghen qua đời (1895). Từ 1848-1871, C.Mác và Ph.Ăngghen lấy triết học làm thế giới quan, phương pháp luận nghiên cứu kinh tế chính trị và chủ nghĩa cộng sản và làm phong phú cho triết học trước đó. Chủ nghĩa Mác trở thành hệ tư tưởng khoa học trong phong trào công nhân ở nhiều nước trên thế giới. Từ năm 1871-1895, C.Mác và Ph.Ăngghen lần lượt phát triển cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác.

Đến cuối đời, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản khoa học mới thực sự chín muồi và hội tụ trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành hiện thực, thành lý luận khoa học và cách mạng, mở ra con đường phấn đấu vì tự do, hạnh phúc cho nhân loại.

Trước những đóng góp to lớn về lý luận, các tổ chức uy tín của thế giới đã thừa nhận, suy tôn thế kỷ XX là thế kỷ của C.Mác và Ph.Ăngghen. Bên cạnh đó, sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, tác phẩm “Tư bản” của C.Mác đã được phát hành rộng rãi, thậm chí bán không đủ nhu cầu cho người đọc trên chính quê hương của C.Mác.

Những cống hiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại cho nhân loại và giai cấp công nhân quốc tế thế giới quan khoa học và cách mạng, là “công cụ nhận thức vĩ đại” để cải tạo thế giới, xây dựng xã hội, thế giới loài người tốt đẹp hơn. Điều này, lịch sử đã ghi nhận.

Rõ ràng, những nội dung và lời lẽ trong “Thư ngỏ” của Nguyễn Khắc Mai vừa cho thấy những nhận thức lệch lạc, đã vậy, lời lẽ thô thiển, vậy mà vẫn tung lên mạng rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo Đảng đòi hỏi phải thế này, thế khác. Thiết nghĩ, người viết “Thư ngỏ” cần nhìn lại chính mình, xem nhận thức tương xứng với đòi hỏi chưa trước khi đặt bút viết “Thư ngỏ”!

Hồng Phú (CAND)

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 06/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Vừa qua, Bộ Công an đã hoàn thành dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng. Dự thảo Nghị định gồm 06 chương 30 điều.

Dự thảo Nghị định này được đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Công an cùng với dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong thời gian 02 tháng kể từ ngày đăng.

Các ý kiến đóng góp xin gửi về Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, địa chỉ 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

**********

1. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng: gồm 06 chương, 30 điều, quy định các nội dung cụ thể, trọng tâm của các vấn đề được giao xây dựng, trong đó tập trung chủ yếu vào xác định căn cứ xác lập, điều kiện và cơ chế phối hợp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; vấn đề lưu trữ dữ liệu và đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam. Một số nội dung trọng tâm là:

(1) Xác lập hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 3): Dự thảo đã quy định “căn cứ xác lập” để nâng cao khả năng triển khai trong thực hiện với những quy định đã có trong Điều 10 Luật An ninh mạng, tập trung xác định những căn cứ rõ ràng, liên quan trực tiếp tới an ninh quốc gia. Bộ Công an cũng thấy rằng, để bảo đảm phù hợp hơn với thực tế, cần có sự khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng những hệ thống điển hình của các ngành, lĩnh vực trọng yếu, qua đó khái quát, rút ra những căn cứ chung nhất, bổ sung vào dự thảo.

(2) Phối hợp thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Mục 2, Chương 2): Hiện nay, có 03 nội dung cần sự phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông là các hệ thống thông tin trùng nhau giữa Danh mục hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, đó là: kiểm tra, giám sát, thẩm định đối với những hệ thống này. Qua thảo luận, trao đổi, các cơ quan có liên quan đã thống nhất cơ chế phối hợp: giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thông tin của Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong kiểm tra, giám sát, thẩm định; chia sẻ dữ liệu thu thập được từ những hệ thống này để phục vụ chung cho công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, bảo vệ an ninh mạng. Đây là nội dung mang tính đột phá nhằm hạn chế những trùng dẫm trong thực hiện nhiệm vụ được giao, hạn chế các thủ tục hành chính.

(3) Điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Mục 3, Chương 2): quy định những điều kiện là nền tảng cơ bản, thực sự cần thiết để bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

(4) Trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng (Chương 3): Dự thảo Nghị định quy định trình tự, thủ tục thực hiện 04 biện pháp bảo vệ an ninh mạng là thẩm định, đánh giá, kiểm tra và ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng. Đây là những biện pháp kỹ thuật, áp dụng đối với 02 chủ thể chính là chủ quản hệ thống thông tin và lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

(5) Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở Trung ương và địa phương (Chương 4): tập trung những nội dung mang tính nguyên tắc, khuyến nghị áp dụng, với 03 nội dung chính: Xây dựng, hoàn thiện quy định, quy chế sử dụng mạng máy tính của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương; Xây dựng, hoàn thiện phương án bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương; Phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương.

(6) Quy định yêu cầu lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam (khoản 3 Điều 26). Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng, vị trí đặt dữ liệu không góp phần tăng cường tính bảo mật của dữ liệu, nhưng trong vấn đề này cần được đánh giá trên nhiều yếu tố, nhiều phương diện và nhiều chiều. Từ góc độ quản lý nhà nước và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững trong tương lai, Nhà nước phải làm chủ và quản lý, bảo vệ được các dữ liệu về thông tin cá nhân và thông tin do công dân trong nước tạo ra. Đây là vấn đề chủ quyền dữ liệu, tránh tình trạng tập trung, độc quyền của các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài, bất bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước, trong khi nguy cơ an ninh dữ liệu được đặt ở mức cao hơn khi bên thứ ba có thể tiếp cận, khai thác, sử dụng mà Nhà nước không quản lý được. Việc Facebook liên tục lộ, lọt dữ liệu người dùng qua các hình thức khác nhau đã chứng minh sự bất cập khi một công ty nước ngoài quản lý toàn bộ dữ liệu công dân của quốc gia khác. Tương lai, dữ liệu mới là nguyên liệu đầu vào quan trọng nhất cho nền kinh tế, khi mà các hoạt động của Nhà nước đều phải dựa trên sự phân tích, thống kê dữ liệu. Làm chủ được dữ liệu góp phần giúp quốc gia làm chủ được tương lai.

Để bảo đảm được tính đa chiều, phù hợp với tình hình thực tế và thăm dò dư luận xã hội, qua nhiều phiên họp, thảo luận, dự thảo Nghị định hiện quy định phương án:

- Đối với dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam: Dự thảo Nghị định quy định 03 loại dữ liệu cần lưu trữ theo Khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng, nhưng không phải toàn bộ các loại hình lưu trữ, mà thiết lập “bộ lọc”, xác định quy định một số loại dữ liệu thực sự cần thiết, cần áp dụng các biện pháp bảo vệ tương xứng trong 03 loại dữ liệu nêu trên để bảo đảm yêu cầu bảo vệ an ninh dữ liệu.

- Đối với doanh nghiệp phải lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam thuộc 10 loại hình doanh nghiệp, đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện: (1) Là doanh nghiệp cung cấp một trong các dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam sau đây: Dịch vụ viễn thông; Dịch vụ lưu trữ, chia sẻ dữ liệu trên không gian mạng; Cung cấp tên miền quốc gia hoặc quốc tế cho người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam; Thương mại điện tử; Thanh toán trực tuyến; Trung gian thanh toán; Dịch vụ kết nối vận chuyển qua không gian mạng; Mạng xã hội và truyền thông xã hội; Trò chơi điện tử trên mạng; Thư điện tử. (2) Có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý các loại dữ liệu quy định tại Điều 24 Nghị định này. (3)  Để cho người sử dụng dịch vụ thực hiện hành vi được quy định tại Khoản 1, 2 Điều 8 Luật An ninh mạng. (4) Vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 8, điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 26 Luật An ninh mạng.

-Về thẩm quyền yêu cầu lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam: Dự thảo Nghị định quy định Bộ trưởng Bộ Công an yêu cầu doanh nghiệp đủ điều kiện và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

- Về chế tài xử lý: Do chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này nên dự thảo quy định: “Các doanh nghiệp không chấp hành quy định lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật”.

2. Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, gồm 03 điều, 01 Phụ lục Danh mục hệ thống, chỉ quy định việc ban hành Danh mục và trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan tới Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Dự thảo này cơ bản nhận được sự đồng ý của thành viên Ban Soạn thảo, Tổ Biên tập, không có nhiều ý kiến tham gia.

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG AN

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

Ngày 06/12/2018

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

     Được sự nhất trí của Thường trực Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình, Thường trực Đảng ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân phường 2, vào chiều ngày 05/12/2018 tại Hội trường Ủy Ban Nhân dân phường 2, Hội Chữ thập đỏ phường tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Hội và phong trào Chữ thập đỏ năm 2018.

     Đến tham dự có Ông Phạm Văn Hải Đăng – Phó Chủ tịch Chữ thập đỏ quận Tân Bình, Bà Trần Hồng Vân – Phó bí thư Đảng ủy/Chủ tịch HĐND phường, Bà Phạm Thị Tâm – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường/Trưởng ban Chỉ đạo vận động Hiến máu tình nguyện phường và các ông bà đại diện các ban ngành đoàn thể phường, ngoài ra còn có sự có mặt của các nhà hảo tâm, các Mạnh thường quân và hơn 60 lượt hội viên tham dự.

1-2
1-3
1-6
1-4
1-7
1-8
1-9
1-10
1-11
1-12

     Tại hội nghị, Thường trực Hội Chữ thập đỏ phường đã báo cáo công tác hoạt động Hội năm 2018 và thông qua phương hướng năm 2019. Cũng tại hội nghị, Hội Chữ thập đỏ phường đã tổ chức phát động ký kết phong trào thi đua và phát động phong trào nuôi heo đất năm 2019. Tổ chức tri ân 5 gương điển hình là những tấm lòng vàng đã ủng hộ và hỗ trợ cho công tác xã hội nhân đạo cho phong trào hoạt động Hội trong năm qua; đồng thời Hội Chữ thập đỏ phường khen thưởng 8 tập thể, 11 cá nhân hoàn thành xuất sắc phong trào Hội và 2 cá nhân tích cực trong phong trào hiến máu tình nguyện năm 2018. Với tổng kinh phí thực hiên hơn 5.400.000 đồng.

     Có được kết quả như trên, Hội Chữ thập đỏ phường xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của Quận Hội, Đảng ủy – Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân phường cùng các ban ngành đoàn thể phường, các công ty và các ông bà mạnh thường quân đã đóng góp ủng hộ giúp Hội Chữ thập đỏ phường thành công trong công tác hoạt động phong trào đã đề ra.

                                      CTV – PHAN HỒ NGỌC TRINH TRINH

      Nhằm thực hiện kế hoạch của Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình về Kỷ niệm 72 năm ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2018); tuyên dương hoa việc thiện năm 2018; tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn một địa chỉ nhân đạo” giai đoạn 2008 – 2018; tổng kết Hội và hoạt động phong trào Chữ thập đỏ,Phong trào Hiến máu tình nguyện năm 2018.

image003

      Được sự nhất trí của Thường trực Hội chữ thập đỏ quận Tân Bình, Thường trực Đảng ủy, HĐND và Ủy ban nhân dân phường 8, vào lúc 14 giờ ngày 30 tháng 11 năm 2018 Hội chữ thập đỏ phường 8 tiến hành tổ chức Kỷ niệm 72 năm ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2018) tuyên dương hoa việc thiện năm 2018, tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn một địa chỉ nhân đạo” giai đoạn 2008 – 2018; tổng kết Hội và hoạt động phong trào Chữ thập đỏ, phong trào Hiến máu tình nguyện năm 2018.

      Đến dự có Ông Phạm Văn Hải Đăng - phó Chủ tịch Hội chữ thập đỏ quận Tân Bình, về phía lãnh đạo phường có Ông Nguyễn Văn Minh - phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, đến dự hội nghị còn có các ông bà đại diện các Ban ngành đoàn thể, cấp ủy, trưởng Ban điều hành, trưởng Ban Công tác Mặt trận 7 khu phố, đặc biệt hội nghị còn có mặt 8 tập thể, 7 gương tuyên dương “Hoa việc thiện”, 23 cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động hội cũng như điển hình về công tác hiến máu tình nguyện năm 2018. Trong hội nghị, Ban Chấp hành Hội Chữ thập đỏ phường cùng với 7 chi hội chữ thập đỏ khu phố đã ký thi đua năm 2019, với quyết tâm thực hiện hoàn thành xuất sắc công tác Chữ thập đỏ năm 2019. Hội nghị cũng đã chứng kiến ký kết giữa Hội Chữ thập đỏ phường với Trạm Y tế, Hội liên hiệp phụ nữ phường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường 8 trong công tác phối hợp xã hội nhân đạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn phường năm 2019. Nhân dịp này Chi hội chữ thập đỏ khu phố 5 đã trao tặng bà Phạm Thị Huệ ngụ tại số 888/67/12 Lạc Long Quân khu phố 5 mỗi tháng 500.000 đồng, Chi hội chữ thập đỏ khu phố 7 trao tặng bà Đỗ Thị Hoa ngụ tại số: 870/43/12 Lạc Long Quân.

      Hội nghị diễn ra trong khí vui tươi và thành công tốt đẹp.

                                                                             CTV – PHAN PHỤC

Vào lúc 6 giờ 30 phút sáng ngày 02/12/2018, Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện phường 15, quận Tân Bình tổ chức ngày hội hiến máu tình nguyện đợt 01năm 2019, địa điểm tại Trụ sở UBND phường 15, số 822 Trường Chinh, quận Tân Bình, với chủ đề “Hiến máu cứu người – Một nghĩa cử cao đẹp”; “ Mỗi giọt máu cho đi - một cuộc đời ở lại. Ngày hội, đã thu hút đông đảo người dân trong địa bàn phường và cả những người khách vãng lai đi ngang qua khu vực tổ chức hiến máu cũng nhiệt tình vào tham gia hiến máu cứu người,  tạo nên quang cảnh buổi hiến máu vô cùng nhộn nhịp, đông vui, với nghĩa cữ cao đẹp của những người tham gia hiến máu.

20181202092305
20181202092056
20181202092318

     Đến tham dự buổi hiến máu có Ông Phạm Văn Hải Đăng – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình, Ông Đỗ Thành Trung – Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện phường 15, các Ông Bà trong Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện phường, các Ông Bà là cấp ủy, Ban điều hành khu phố,  Ban chấp hành Hội Chữ thập đỏ phường. Các Y, Bác sỹ Trạm y tế cùng các Y, Bác sỹ trung tâm và hơn 60 tình nguyện viên từ các Ban ngành đoàn thể tham gia phục vụ trong suốt buổi hiến máu cứu người.  

     Kết quả trong ngày hội, Trung tâm hiến máu nhân đạo thành phố thu được 240 ca, trong đó có 113 ca 250ml, 110 ca 350ml, 17 ca 450ml ( đạt 312 đơn vị máu ). Như vậy, đợt 01 năm 2019 phường 15 đã đạt 80% chỉ tiêu Ban Chỉ đạo quận giao cả năm 2019.   

          Do công tác tổ chức tuyên truyền vận động tốt và do việc giao chỉ tiêu hiến máu cụ thể về các khu phố từ trước, cho nên ngày Hội hiến máu tình nguyện tại phường 15 đã diễn ra thành công tốt đẹp, và kết thúc lúc 11 giờ cùng ngày.      

                                                                     Hội Chữ thập đỏ phường 15

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)