Biên tập viên

Biên tập viên

Chiều nay 03/10/2018, Văn phòng Trung ương Đảng phát thông cáo báo chí ngày làm việc thứ 2 của Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khoá XII, theo đó, 100% Ủy viên Trung ương đã thống nhất giới thiệu Đồng chí Tổng Bí thư để Quốc hội xem xét, bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước.

Trước và sau khi có thông báo này, trên mạng xã hội có nhiều thông tin “ủng hộ nhất thể hoá chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước” (như nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa). Có người lại cho rằng làm như vậy là “vi hiến”.

Vậy chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Đầu tiên cần phải khẳng định: Không dùng từ “hợp nhất”, hay “nhất thể hoá” trong trường hợp này, vì chức danh Bí thư các cấp của Đảng là do Đại hội Đảng (hoặc cấp ủy Đảng) bầu theo quy định của Đảng, chức danh Chủ tịch nước do Quốc hội bầu theo Quy định của Hiến pháp. Chưa có quy định nào yêu cầu Tổng Bí thư không làm Chủ tịch nước (và ngược lại). Như vậy, tức là hoàn toàn có khả năng 01 người đồng thời giữ 2 nhiệm vụ TBT và CTN.

Chúng ta cần nhớ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng là Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Nguyên thủ Quốc gia), và đồng thời cũng là người đứng đầu Chính phủ (theo Hiến pháp 1946).

Như vậy, việc Đảng ta giới thiệu người đứng đầu Đảng giữ vị trí Nguyên thủ Quốc gia là hợp pháp, đúng quy định của Đảng, và cũng không phải là điều “chưa từng có tiền lệ”.

Nếu dùng từ “hợp nhất”, “nhất thể hoá” nghĩa là 02 chức danh trên sẽ nhập làm một, như vậy Đảng sẽ làm thay Quốc hội chức năng bầu Nguyên thủ Quốc gia? Đó chính là xuyên tạc bản chất sự việc, phủ định nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị (Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước). Bên cạnh đó, họ nói như vậy còn để dẫn dắt người đọc theo hướng ngộ nhận rằng Đảng, Nhà nước ta “rập khuôn” mô hình Trung Quốc, từ đó kích động tâm lý bài Trung để quay ra chống Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, “hợp nhất”, “nhất thể hoá” còn có thể gây ngộ nhận là từ nay về sau các trường hợp nhân sự TBT, CTN tiếp theo cũng “sẽ là 01 người”?

Như chúng ta đã biết, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đột ngột từ trần ngày 21/9/2018 là mất mát lớn cho Đảng và Nhà nước ta, và cần thiết phải khẩn trương thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự Chủ tịch nước đảm bảo tiêu chuẩn theo Quy định. Do đó, trong cuộc họp BCH TW gần nhất này đã phải bổ sung nội dung nhân sự, trong đó Trung ương lựa chọn nhân sự giới thiệu bầu Chủ tịch nước trên cơ sở Quy định tiêu chuẩn cán bộ của Đảng, để Quốc hội xem xét bầu cử, không phải là hợp nhất mà phải được bầu cử theo quy định của Đảng và Hiến pháp, Pháp luật.

Chúng ta cần nhận thức rõ bản chất hoạt động này của BCHTW Đảng để tỉnh táo trước các thông tin nhiễu loạn, hàm chứa ý đồ xấu.

- Tháp Mười -

Trích đăng từ trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

                                                     

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

(Codotphcm) Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định (T4) được chính thức thành lập vào năm 1960. Ban có 24 đơn vị trực thuộc (gọi là B): Tuyên truyền, Thông tấn xã, Đài Minh ngữ, Nhiếp ảnh, Báo chí, Nhà in, Văn công, Điện ảnh, Họa – Khắc, Huấn học, Giáo dục, Trường Đảng, Văn phòng, Bảo vệ căn cứ, Tiếp liệu, Đội giao liên cơ quan, Giao liên bàn đạp, Võ trang tuyên truyền, Phân xã Giải phóng, Điện đài, Mật mã, Cơ yếu. Ban có gần 300 cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, nhưng lại có hơn 100 quần chúng giác ngộ cách mạng tự nguyện tham gia trong các lực lượng tiếp liệu, đội võ trang tuyên truyền, giao liên bàn đạp và trên 600 gia đình cơ sở cách mạng trong các vùng lõm chính trị, xung quanh các trạm giao liên và căn cứ cách mạng. Ban đã nhiều lần tách nhập nhưng cuối cùng vẫn nhập làm một và tên gọi vẫn là Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định (SG-GĐ).

Với chức năng nhiệm vụ phụ trách mặt trận chính trị - tư tưởng, vận động quần chúng các giới trên địa bàn khu SG-GĐ tham gia chống địch, đánh địch, ủng hộ cách mạng; khi cần thì chiến đấu tiêu diệt địch để tự bảo vệ và bảo vệ quần chúng. Điểm đặc biệt của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ là hoạt động trong lòng địch, trước mắt địch trong thế bị kềm tỏa, bị kiểm soát gắt gao và những người chung quanh ta ai căm thù Cộng sản, ai yêu nước, ủng hộ cách mạng ta đều chưa thể biết được; chỉ cần sơ sẩy một chút là có thể gây ra tổn thất nặng nề. Vì vậy hoạt động của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ không chỉ có Tuyên truyền, Huấn học… mà phải bao gồm cả chính trị - vũ trang - dân vận - binh vận và phải có “căn cứ” để lãnh đạo, có nơi đứng chân để chỉ đạo phong trào, để các cánh quân có thể ém quân nhằm tấn công mục tiêu đã định, để quần chúng cách mạng có thể làm chủ và nuôi dưỡng, che dấu cán bộ cách mạng; khi có điều kiện có thể tấn công địch, tiêu diệt địch.

1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm đặc biệt.

Ngay từ đầu năm 1960 – tức ngay sau khi Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ được thành lập – Tiểu ban Huấn học đã mở lớp đầu tiên đào tạo cán bộ cho phong trào học sinh-sinh viên khu SG-GĐ. Tháng 6/1965 Trường Đảng thành phố ra đời và năm 1969 Trường Đảng chính thức mang tên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ.

Từ 1960 đến 1975, từ Tiểu ban Huấn học sau này là Trường Đảng, đã tổ chức được trên 120 lớp cho 2.100 cán bộhoạt động nội đô và ngoại thành của Ban, 130 cán bộ hoạt động nội thành của Đoàn thanh niên, 81 cán bộ của tổ chức Công đoàn, 40 cán bộ cánh Trí vận, 35 cán bộ Phụ vận và trên 100 cán bộ của các tỉnh Long An, Tây Ninh…

Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ đã chọn khâu đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên là khâu đột phá và coi đó là yếu tố quyết định: cán bộ ngành Tuyên huấn được đào tạo bài bản từ quan điểm lập trường đến kiến thức, tạo nên mũi nhọn sắc bén khi tiến công địch trên nhiều trận địa, nhất là trên lĩnh vực chính trị-tư tưởng. Cán bộ Tuyên huấn khi gặp địch lập tức trở thành chiến sĩ đánh địch, dù phải hy sinh nhưng cũng tiêu diệt được kẻ thù đông gấp 3-4 lần. Lực lượng cán bộ chiến sĩ của Ban Tuyên huấn luôn kế tiếp, phát triển không hề suy giảm. 

2. Lợi dụng thế báo chí công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, đập lại chế độ phản động là nét độc đáo về chính trị.

Trong kháng chiến, Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ đã gầy dựng được 4 tờ báo: 3 tờ bí mật trong nội thành (Cờ Giải phóng, Sài Gòn vùng lên, Thống nhất) và tờ Ngọn cờ Gia Định ở ngoại thành với số lượng trên 2.000.000 tờ đã được phát hành trong các tầng lớp dân chúng. Nhiều nhà báo của ta từ ngoài đưa vào cùng một số nhà báo tên tuổi tại chỗ dưới nhiều bút danh khác nhau đã có mặt, có bài ở các tờ báo tiến bộ: Lẽ Sống, Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Sài Gòn mới, Tin Điển, Thời cuộc, Buổi sáng, Dân Chủ, Buổi chiều, Điện tín, Tuần san Phòng thương mại, Công lý, Duy Tân, Điện báo, tạp chí Tiến Thủ, tạp chí Nhân loại… đã tạo nên những phong trào: Báo chí chống độc diễn bầu cử của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (1973), đỉnh cao là phong trào “Ký giả đi ăn mày”, “Ngày ký giả thọ nạn” (10/10/1974)… được dư luận đánh giá là cuộc đấu tranh lớn nhất và có tác động mạnh nhất, sâu sắc nhất cả trong và ngoài nước, trong lịch sử đấu tranh của báo chí cách mạng.

Việc lợi dụng thế báo chí công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, đập lại chế độ phản động là nét độc đáo về chính trị trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ.

Để phục vụ cho công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, ngay sau khi được thành lập Ban đã cho xây dựng nhà in trong vùng giải phóng: nhà in chữ chì B1 tại Củ Chi; nhà in chữ chì B2 tại Trảng Bàng, Tây Ninh và nhà in chữ chì B3 ở Bến Cát, Bình Dương với 1 tổ in sáp (Stencil), 1 tổ in thạch bản (Litho). Trong nội thành có 2 nhà in công khai: 1 ở Bà Chiểu (nhà in Nguyễn Trọng), 1 ở Phát Diệm và 1 nhà in bí mật ở Hòa Hưng (quận 10). Trong điều kiện vừa in ấn, phát hành, vừa phải canh chừng địch (nội thành); chống càn, đánh địch (ngoại thành) để bảo vệ tài sản, bảo vệ sinh mạng của những người làm nhiệm vụ - nhà in đã bảo đảm in cho các tờ báo: “Đấu tranh”, “Giải phóng”, “Gia Định”, “Cờ Giải phóng”, “Cờ Gia Định”, “Khởi nghĩa”, in tập thơ “Phú Lợi”, “Đường vào vũ trụ của Gagarin”, nội san “Trí thức mới”, in cờ Mặt trận, thẻ căn cước giả, “10 chính sách cho vùng mới giải phóng” và hỗ trợ in báo “Quyết thắng” cho Quân khu, in tài liệu cho Thanh vận… lên đến gần 3 triệu tờ. Chủ động và phối hợp tấn công địch, chống càn 10 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 76 lính Mỹ và bắn cháy 8 xe tăng, 2 xe ủi đất, bắn rơi 2 trực thăng, thu 2 súng. Có 29 đồng chí hy sinh.

Có thể thấy rằng, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Ban Tuyên huấn Khu SG-GĐ dù trong tình thế ngặt nghèo khó khăn nhất (1955-1965) đã sáng tạo chuyển phần lớn hoạt động bí mật ra thế công khai, thông qua các tờ báo, sân khấu cải lương, phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc… Đội ngũ cán bộ của Ban từ những nhà báo, nhà văn, nhà thơ, văn nghệ sĩ đã mưu trí, khôn khéo hoạt động. Nhiều đồng chí bị bắt, hy sinh, một số cơ sở bị lộ nhưng những đồng chí còn lại, số mới tăng cường vẫn ngoan cường bám địa bàn để hoạt dộng và hoạt động có hiệu quả.

3. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị với vũ trang.

Đây là sự sáng tạo của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ từ thực tế của cuộc chiến đấu cam go trong lòng địch. Ban đã thành lập những Đội tuyên truyền rất sớm (từ 1965). Các đội đã đột phá vào các rạp hát, rạp chiếu bóng, các chợ, trung tâm thương mại đông người để rải truyền đơn, treo cờ, treo biểu ngữ, phổ biến nhanh các chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Từ 1968, tình hình đòi hỏi phải có sự tấn công địch bằng vũ trang, phải làm rệu rã chính quyền cơ sở của ngụy quyền, phải diệt ác phá kềm giải phóng quần chúng nhân dân bị kềm kẹp khắc nghiệt của ngụy quân, ngụy quyền; phục vụ cho việc xây dựng vùng lõm chính trị - căn cứ cách mạng ngay trong lòng Sài Gòn. Ban đã chuyển và lập 3 Đội vũ trang tuyên truyền, có đội hoạt động lưu động trên địa bàn thành phố - nghĩa là nơi nào cần thì Ban điều về để hỗ trợ - có đội được xây dựng tập trung ờ 1 địa bàn nhất định.

Hoạt động của các Đội vũ trang tuyên truyền khá phong phú và hiệu quả - đặc biệt là việc cảnh cáo các tên an ninh phường xã, các tên khóm trưởng, phường trưởng kể cả những tên do quân đội cử qua. Các đội đã điều tra, nắm kỹ những tên bị quần chúng lên án hay “dòm ngó” gia đình người khác, nội bộ kình địch mâu thuẫn nhau. Đội đã gởi thư cảnh cáo kèm theo phong bì là 1 viên đạn, phân tích bản chất xấu xa của đám sĩ quan, đám an ninh cấp trên và kêu gọi họ không làm việc cho ngụy quyền, không tiếp tay làm khó người dân, không đối đầu với Quân Giải phóng. Tác dụng rất rõ: một số xin thôi không làm việc, đa số hoạt động cầm chừng không dám huênh hoang và lùng sục như cũ. Đội tự chế tạo trái nổ bằng thuốc pháo, đốt và quăng vào trụ sở an ninh, các chốt “nhân dân tự vệ”…

Đỉnh cao là những tên ác ôn, cảnh cáo nhiều lần không giảm, Đội lên kế hoạch xin chủ trương tiêu diệt, tạo điều kiện cho quần chúng cách mạng và cơ sở cách mạng nơi đây bung ra hoạt động. Các đội đã in và rải trên 1.000.000 tờ truyền đơn, may và treo 21 cờ MTDTGP, may và treo 15 biểu ngữ; chế tạo trên 50 trái nổ, diệt 2 tên ác ôn tại 2 vùng lõm chính trị, bắn cảnh cáo bị thương 2 tên, cảnh cáo 65 tên an ninh xã, phường, khóm… Chính quyền cơ sở tự rệu rã, an ninh nới lỏng và tất nhiên lực lượng cách mạng hoạt động thuận lợi hơn, quần chúng yên tâm và tin tưởng cách mạng hơn.   

4. Tin và dựa vào dân, bắt rễ sâu trong quần chúng các giới.

Trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ, lĩnh vực nào cũng cần có sự ủng hộ, tiếp sức của quần chúng nhân dân để rồi mọi hoạt động của Ban là nhằm tập hợp quần chúng nhân dân, bảo vệ họ, hướng dẫn họ đấu tranh bảo vệ gia đình mình, bảo vệ đất nước.

Trên lĩnh vực báo chí, văn hóa, nghệ thuật, Ban đã vận động được các nhà báo, các văn nghệ sĩ tiêu biểu có ảnh hưởng tích cực đến phong trào như: Tô Nguyệt Đình, Nguyễn Văn Mại, Nam Đình… đã liên tục viết bài đăng trên các báo hướng dẫn dư luận đấu tranh. Nhà văn Văn Phụng Mỹ, Tiêu Kim Thủy, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Truy Phong… gây tiếng vang trong dư luận các giới.

Trên lĩnh vực sân khấu có các nghệ sĩ có tinh thần dân tộc, các đoàn hát tiến bộ như các đoàn: Việt kịch Năm Châu, Phước Chung, Kim Thoa, Thanh Minh, Kim Chưởng, Ngọc Kiều…

Trên trận địa giáo dục có các nhà giáo uy tín: Lê Văn Huấn, Nguyễn Trường Cửu, Lê Văn Chí, Nguyễn Bá Thảo, Lê Văn Thới… lồng các nội dung giáo dục tiến bộ vào bài giảng, sử dụng Nghiệp đoàn giáo dục tư thục Nam Việt làm nơi tập hợp lực lượng giáo viên tiến bộ đấu tranh với chính quyền Sài Gòn.

Những lực lượng tiến bộ khác thì sử dụng hình thức tổ chức công khai như “Ủy ban bảo vệ sinh mạng và tài sản dân chúng”, ở phường-khóm thì tổ chức “Chống thủy - hỏa - đạo tặc” để làm chỗ dựa cho quần chúng bảo vệ cán bộ và tuyên truyền chống địch.

Như vậy bài học mà Ban Tuyên huấn khu SG-GĐ tuân thủ một cách sâu sắc đó là tiếp thu những giá trị tinh thần truyền thống cách mạng, tin và dựa vào Dân, bám rễ sâu trong quần chúng các giới, trong nhân dân khu xóm lao động kể cả tầng lớp bên trên trong việc tạo thế, tạo lực lâu dài phục vụ cho việc hoàn thành nhiệm vụ chiến lược do Đảng giao phó.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngành Tuyên huấn khu Sài Gòn - Gia Định có hơn 120 liệt sĩ (trong đó có 20 đồng chí tìm được hài cốt) và 64 thương binh, 30 đồng chí bị địch bắt tù đày, trong đó 6 đồng chí bị đày đi Côn Đảo -không có đồng chí nào đầu hàng địch, giữ vững khí tiết trong mọi hoàn cảnh.

Sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975), tiếp nối truyền thống Ban TH T4, Ban Tuyên huấn Thành phố Hồ Chí Minh ra đời và đi vào hoạt động trong giai đoạn mới. Sau nhiều lần đổi tên, đến năm 2007, Ban chính thức mang tên Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM như ngày nay. Với đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, được trui rèn, thử thách, Ban Tuyên giáo Thành ủy đã đảm đương trách nhiệm do Đảng bộ Thành phố giao một cách trọn vẹn.

Với những thành tích đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị do Khu ủy giao là đặc biệt xuất sắc, ngày 21 tháng 9 năm 2018, Ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn - Gia Định xứng đáng vinh dự được Đảng và Nhà nước ta phong tặng Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cờ đỏ Tp. Hồ Chí Minh

Trích đăng từ bài viết “Ban tuyên huấn khu sài gòn - gia định,mốc son lịch sử vẻ vang thời kỳkháng chiến chống mỹ” - trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

 

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Sau thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, để kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền nam, ngày 23-01-1961, Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền nam (T.Ư Cục MN) (thay thế Xứ ủy Nam Bộ trước đó), đặt dưới sự chỉ đạo của BCH Trung ương Đảng mà thường xuyên là Bộ Chính trị. Ngày 10-10-1961 tại hội nghị lần thứ nhất, T.Ư Cục MN đã chính thức thành lập bộ máy lãnh đạo của Trung ương Cục. Đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư, đồng chí Võ Chí Công, Phan Văn Đáng (Hai Văn) làm Phó Bí thư.

Ngày 23-11-1961 hội nghị T.Ư Cục đã quyết định thành lập Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền nam (Ban THT.Ư Cục MN), nối tiếp nhiệm vụ của Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Quyết định thành lập Ban THT.Ư Cục nêu rõ: Công tác tư tưởng chính trị, cổ động tuyên truyền đang đòi hỏi cấp bách một bộ máy tổ chức lãnh đạo với một đội ngũ cán bộ tuyên huấn thích ứng với mọi tình huống trong tình hình mới. Bộ Chính trị đã chỉ định đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư T.Ư Cục kiêm Trưởng Ban THT.Ư Cục. Do tính chất đặc biệt quan trọng và yêu cầu thường trực đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng của Đảng, các đồng chí Bí thư, Thường vụ T.Ư Cục đều kiêm là Trưởng ban hoặc chỉ đạo trực tiếp công tác tuyên huấn trong từng thời kỳ như đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng.

Khi thành lập Ban THT.Ư Cục chỉ có khoảng 150 người quy tụ chủ yếu cán bộ ở lại chiến trường sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Căn cứ yêu cầu phát triển công tác tuyên truyền vận động chính trị trong giai đoạn mới, ngày 30-01-1965 Thường vụ T.Ư Cục ra quyết định củng cố, mở rộng Ban THT.Ư Cục với các bộ phận Tuyên (Tuyên truyền huấn học), Văn (văn hóa, văn nghệ), Giáo (giáo dục), Báo (báo, đài phát thanh, thông tấn xã) và Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc miền nam.

Lực lượng chi viện trở thành nòng cốt của Ban THT.Ư Cục gồm cán bộ lý luận như: Trần Trọng Tân, Võ Quang Trinh, Năm Quảng, Hà Phú Thuận; các nhà báo như: Thép Mới, Tuất Việt, Đinh Phong (Báo Nhân Dân); các nhà văn, nhạc sĩ như: Nguyễn Văn Bổng, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Việt; cán bộ điện ảnh như: Mai Lộc, Trịnh Mai Diêm. Còn phải kể đến nhiều đoàn cán bộ trẻ vừa tốt nghiệp các trường đại học ở Hà Nội được tuyển chọn bổ sung cho tuyên huấn các khu ủy Trị Thiên, khu V và Ban THT.Ư Cục. Trong số cán bộ trẻ đó có nhà thơ Lê Anh Xuân (cùng Đoàn K33 có Nguyễn Khoa Điềm vào khu ủy Trị Thiên - Huế), sau này có Phạm Quang Nghị (hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội) tăng cường cho Ban THT.Ư Cục. Nhiều người trong số họ đã hy sinh tại chiến trường.

Trong kháng chiến, công tác tư tưởng chính trị là mặt trận hàng đầu đi trước một bước, góp phần quyết định tạo nên phong trào cách mạng. Chấp hành chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ T.Ư Cục, Ban THT.Ư Cục đã chủ động sáng tạo, nghiên cứu tình hình, đề ra chủ trương, phương hướng công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng trong và ngoài Đảng, công tác văn hóa, giáo dục quần chúng; biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác tuyên truyền cho cấp dưới; chỉ đạo nghiệp vụ cho ngành tuyên huấn các cấp, đào tạo cán bộ cơ sở. Đặc biệt, Ban đã tham mưu kịp thời, sát đúng về công tác chính trị tư tưởng trong từng giai đoạn cách mạng, nhất là những thời điểm bước ngoặt của cách mạng miền nam: chống chiến tranh đặc biệt, chống chiến tranh cục bộ, chống chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và cách mạng miền nam sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri...

Cán bộ là gốc của công cuộc kháng chiến. Dù địch đánh phá ác liệt, Ban vẫn xây dựng được Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc miền nam, Trường Tuyên huấn miền nam, đào tạo cán bộ cho khu ủy, tỉnh ủy, cán bộ cho ngành tuyên huấn địa phương Nam Bộ. Cuối năm 1961, ngay những ngày đầu mới thành lập, Trường Nguyễn Ái Quốc miền nam đã khai giảng khóa đầu tiên đào tạo lý luận trung cao cấp. Hơn 80 đại biểu và 300 học viên đã về dự. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư T.Ư Cục đã chỉ đạo lớp học. Trải qua 14 năm hoạt động, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc miền nam đã đào tạo sáu khóa với hơn 1.000 học viên.

Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) với truyền thống "cần cù, dũng cảm, tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ" - "làn sóng điện không bao giờ tắt" đã liên tục phát đi những bản tin chiến thắng, những bài viết về kinh nghiệm đấu tranh của đồng bào miền nam, cổ vũ khí thế ngày càng lớn mạnh của cách mạng miền nam, làm nức lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

Tạp chí Tiền Phong (thuộc Tiểu Ban huấn học) là tạp chí chính trị - lý luận của Đảng, mỗi tháng ra một kỳ nhằm nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ đảng viên về các chủ trương chính sách của Đảng, các kinh nghiệm chỉ đạo phong trào. Tạp chí Thời Sự Nhân Dân (thuộc Tiểu Ban tuyên truyền) phổ biến kinh nghiệm công tác vận động quần chúng cho cán bộ cơ sở, phương thức đấu tranh ba mũi giáp công, phá ấp chiến lược giành quyền làm chủ ở nông thôn, đấu tranh chính trị ở đô thị.

Báo Giải Phóng ra số đầu tiên ngày 20-12-1964 liên tục nửa tháng một kỳ. Nội dung xuyên suốt là tuyên truyền, cổ vũ, khích lệ, tổ chức quần chúng nhân dân miền nam chống Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, mở rộng mặt trận đoàn kết trong nước và tranh thủ sự đồng tình của quốc tế. Báo gửi qua đường giao liên tới các khu ủy, tỉnh ủy và vào tận đô thị Sài Gòn. Trong cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhà báo Thép Mới là Tổng Biên tập báo Giải Phóng cùng nhiều phóng viên đã trực tiếp đi vào nội thành Sài Gòn. Những bài viết nóng hổi về khí thế tiến công Mậu Thân của nhà báo Thép Mới đã kịp thời chuyển ra bắc đăng trên Báo Nhân Dân.

Trong kháng chiến, "báo nói" có tác dụng và ảnh hưởng lớn nhất. Đài phát thanh Giải Phóng chính thức phát sóng ngày 11-2-1962 và trở thành đài phát thanh cả tiếng Việt, tiếng Anh, Pháp, Quảng Đông, Triều Châu. Đài có đóng góp quan trọng cổ vũ khích lệ quân và dân đẩy mạnh thi đua giết giặc lập công."Tìm Mỹ mà diệt, tìm ngụy mà đánh", thi đua giành danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Đài phát thanh Giải Phóng đã phối hợp chặt chẽ với đài phát thanh Giải Phóng trên đất bắc (CP90), do đó suốt 14 năm kháng chiến ác liệt, làn sóng điện của đài Giải Phóng vẫn truyền đi liên tục, động viên cổ vũ tinh thần đấu tranh của quân dân miền nam.

Ra đời cùng với đài phát thanh Giải Phóng, Tiểu ban Văn nghệ và Đoàn Văn công Giải phóng đã sáng tác và biểu diễn nhiều tác phẩm văn học, âm nhạc cách mạng. Nhiều tác phẩm, tác giả sống mãi với thời gian. Văn học nghệ thuật giải phóng rất phong phú, ở các lĩnh vực như văn học, hội họa, điện ảnh, kịch, cải lương, múa. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng với Rừng U Minh, Anh Đức với Hòn Đất, Nguyễn Quang Sáng với tập truyện ngắn Chiếc lược ngà, Hoàng Việt với giao hưởng Cửu Long giang, Trần Đình Vân với Sống như Anh. Đoàn văn công Giải phóng từ chiến khu đã lưu diễn nhiều nước trên thế giới. Điện ảnh Giải phóng dự nhiều liên hoan phim quốc tế ở Liên Xô, CHDC Đức, Ba Lan, Pháp.

Thành lập 1962, Xưởng phim Giải Phóng sản xuất hơn 120 phim tài liệu, phóng sự chiến tranh, tái hiện những hình ảnh hào hùng của quân dân miền nam chống Mỹ - ngụy. Xưởng phim Giải Phóng đã đoạt sáu giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, sáu giải Bông Sen Vàng, bốn giải Bông Sen Bạc, 12 giải quốc tế trong đó có hai Huy chương vàng trong liên hoan phim quốc tế tổ chức ở Liên Xô.

Ban THT.Ư Cục đã tham mưu và trực tiếp thực hiện nhiều hoạt động thông tin đối ngoại. Ban đã tổ chức đón tiếp nhà báo Uyn-phơ-rết Bớc-séc (Ô-xtrây-li-a), nữ nhà báo Ma-đơ-len Ríp-phô (Pháp), đoàn nhà báo Liên Xô, Cu-ba, Ba Lan, Trung Quốc, đón đoàn làm phim tài liệu của Tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Ru-xen điều tra tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền nam Việt Nam, đón đoàn đồng chí Van-đéc Vi-vô, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Cu-ba, đại sứ Cu-ba tại MNVN (3-1969).

Cán bộ, nhân viên Ban THT.Ư Cục không chỉ là chiến sĩ trung thành trên mặt trận tư tưởng chính trị, mà thật sự là chiến sĩ chiến đấu dũng cảm trên chiến trường ác liệt, bảo vệ an toàn căn cứ, đóng góp nhân lực cho lực lượng vũ trang Miền, tham gia chiến dịch, chiến đấu trên các mặt trận.

 

 
  http://codotphcm.com/images/photos/tang%20huan%20chuong.jpg


Năm 1964, Ban đã điều động 800 thanh niên từ các đơn vị thuộc Ban bổ sung vào lực lượng vũ trang, xây dựng Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 (Sư đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường miền nam). Cũng năm 1964, từ căn cứ Tây Ninh, Ban đã cử nhiều đoàn xuống địa phương tuyển quân và hành quân về Thạnh Phú - Bến Tre vận chuyển vũ khí của "Đoàn tàu không số" từ miền bắc vào.

 

Tháng 4-1967, quân Mỹ mở cuộc hành quân Giăng-xơn Xi-ty nhằm tiêu diệt cơ quan trọng yếu của T.Ư Cục và Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam, Bộ Chỉ huy Miền. Ban đã chủ động tổ chức lực lượng du kích cơ quan chiến đấu. Tại lễ tuyên dương dũng sĩ diệt Mỹ trong trận càn Giăng-xơn Xi-ty, Ban THT.Ư Cục là một đơn vị có thành tích cao nhất trong các cơ quan T.Ư Cục, tiêu diệt hơn 100 quân Mỹ, diệt 20 xe tăng và xe bọc thép M113, hơn 40 chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt cơ giới, Dũng sĩ diệt Mỹ. Lực lượng tự vệ Ban được tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.

Năm 1968, Ban tổ chức lực lượng cán bộ, kỹ thuật viên, phóng viên, quay phim, họa sĩ, các đội tuyên truyền vũ trang đồng loạt tham gia trận đánh Tết Mậu Thân 1968. Đoàn cán bộ của Ban cùng các đơn vị mũi nhọn đánh vào nội thành. Cán bộ, chiến sĩ, văn nghệ sĩ của Ban cùng với các chiến sĩ quân giải phóng đã chiến đấu quả cảm, hy sinh anh dũng. Một số phóng viên và nhân viên của báo Giải Phóng xuống mặt trận Sài Gòn được bổ sung vào đội tuyên truyền võ trang Sài Gòn, đã chiến đấu dũng cảm, lập nhiều thành tích vẻ vang. Một số phóng viên chiến trường của báo Giải Phóng như: Cảnh Hân, Quốc Hùng, Trần Huân, Đăng Sơn đã anh dũng hy sinh trên đường phố Sài Gòn.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975, Ban đã huy động tất cả lực lượng chuyên môn theo các mũi tiến công của các cánh quân tiến vào Sài Gòn, vừa tác nghiệp vừa tiếp quản mục tiêu được phân công.

Ban THT.Ư Cục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Tổ quốc giao phó trong mọi tình huống ác liệt của cuộc chiến tranh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Vừa công tác, vừa chiến đấu, Ban THT.Ư Cục có 548 liệt sĩ, 353 thương binh, hàng trăm chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ và Anh hùng LLVT nhân dân. Nhiều cán bộ chuyên viên, nhà giáo, cán bộ khoa học kỹ thuật cấp cao và văn nghệ sĩ nổi tiếng được tặng các phần thưởng cao quý. Ba cơ quan thuộc Ban THT.Ư Cục là Thông tấn xã Giải phóng,Nhà in Trần Phú, Điện ảnh Giải phóng đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Tháng 01-2015, Ban THT.Ư Cục MN đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Nguồn: Báo Nhân Dân

Cờ đỏ Tp. Hồ Chí Minh

Trích đăng từ bài viết “Ban tuyên huấn Trung ương Cục miền nam – Một chặng đường vẻ vang” - trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam ngày nay do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ đó là quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tư tưởng đó xuyên suốt các giai đoạn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930), qua các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cho đến ngày nay-sự nghiệp xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế. Thế nhưng, vì những mục tiêu xấu độc, trên internet, mạng xã hội (MXH) có kẻ cho rằng “Nhà nước Việt Nam theo mô hình Xô viết”, chế độ “độc tài toàn trị'', ''lệ thuộc vào nước ngoài''... Vậy lịch sử và thực tiễn chế độ xã hội XHCN ở Việt Nam đã vận động và phát triển như thế nào?

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo-Chính cương vắn tắt của Đảng (năm 1930)-xác định mục tiêu trước mắt của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Về xã hội: “Dân chúng được tự do tổ chức; nam, nữ bình quyền”… Về chính trị: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”…

Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 02-9-1945, tư tưởng gắn chế độ dân chủ với nền độc lập dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng cao từ những giá trị tư tưởng lớn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (năm 1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (năm 1789). Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”… “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Bắc-Nam sum họp một nhà (năm 1975), mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh”. Tuy nhiên, nhận thức về chế độ dân chủ có lúc cũng phạm những sai lầm. Thời kỳ từ khi đất nước được hoàn toàn giải phóng đến trước Đại hội VI (1975-1985), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng xã hội theo mô hình cũ của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng “Nhà nước chuyên chính vô sản”; về kinh tế đó là xây dựng “nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung” với hai thành phần duy nhất là kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Do đó, nhiều quyền về chính trị, kinh tế của người dân không được tôn trọng, bảo đảm.Vào năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đang ở giai đoạn quyết liệt, kế thừa, phát triển tư tưởng gắn liền chế độ dân chủ với độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”!

Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XI (năm 2011) và Đại hội XII (năm 2016), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chuyển sang đường lối đổi mới. Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng chế độ XHCN gắn với độc lập dân tộc. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)” được Đại hội XI của Đảng thông qua, xác định mục tiêu tổng quát của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam là xây dựng xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;… có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hơn các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể khẳng định Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật của Việt Nam không chỉ tương thích với pháp luật quốc tế mà còn tiên tiến hơn nhiều quốc gia, trong đó có việc ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Thực tế, có quốc gia phát triển cao nhưng chưa phê chuẩn “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, hoặc có quốc gia không gia nhập “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”. Trong khi đó, Việt Nam đã gia nhập cả hai công ước nói trên.

Không phải ngẫu nhiên Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội và Nhà nước. Lịch sử hơn 80 năm, từ khi ra đời đến nay (1930-2018), Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là tổ chức chính trị dẫn dắt dân tộc Việt Nam sớm đi vào trào lưu văn minh của nhân loại.

Đại hội XII của Đảng xác định đường lối đối ngoại, quan hệ quốc tế của Việt Nam là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước”(1).

Trong giai đoạn 1989-1991, Việt Nam luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức, việc xác định “đối tác”, “đối tượng” của cách mạng là vấn đề chính trị mới và nhạy cảm. Hội nghị Trung ương 8, khóa IX của Đảng đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “đối tác” và “đối tượng” của cách mạng Việt Nam có nguyên tắc và linh hoạt: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh…”, trong đối tác có thể có đối tượng và ngược lại. Như vậy, thay vì quan điểm chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh – lấy ý thức hệ làm tiêu chí “bạn”, “thù”, thì nay Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tiêu chí bạn-thù. Đồng thời, lấy nguyên tắc tôn trọng chế độ chính trị, hai bên cùng có lợi làm tiêu chí để hợp tác với các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, ý thức hệ.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và sự ra đời của internet, mạng xã hội (MXH), nguy cơ những cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ trang cổ điển dường như giảm đi, thì nguy cơ mất chế độ xã hội từ những chiến lược “mềm”-chiến lược “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn lợi dụng internet, MXH có xu hướng tăng lên. Ứng phó với cuộc chiến này, vũ khí của chúng ta không chỉ bằng công tác tư tưởng, chính trị, mà còn bằng pháp luật và các chế tài theo luật định.

Các thế lực thù địch trong và ngoài nước gần đây đã tăng cường hoạt động nhằm từng bước chuyển hóa chế độ xã hội ở Việt Nam sang con đường tư bản chủ nghĩa. Những vụ án liên quan đến tội “lợi dụng quyền tự do ngôn luận…” gần đây là một ví dụ. Chẳng hạn, Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (ngày 16-8-2018). Trước đó, vụ Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Đà Nẵng) cùng tội danh và cùng thủ đoạn sử dụng internet, MXH để tung tin xuyên tạc chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 19-9-2018, TAND tỉnh Hòa Bình xét xử bị cáo Đào Quang Thực về tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Những bản án nghiêm khắc cho các đối tượng chống phá chế độ nói trên để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân là cần thiết.

Chế độ dân chủ nhân dân, nay là dân chủ XHCN do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc. Chế độ đó đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử và phát triển cùng với nền văn minh nhân loại. Toàn thể dân tộc Việt Nam không cho phép bất cứ ai, với bất cứ lý do gì để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội mà cả dân tộc đã đổ không biết biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu để giành và bảo vệ chế độ đó.

THEO BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, 2016, tr.153.

Trích đăng từ bài viết “Không thể xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa” - trang cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

 

Chủ tịch nước, Đại tướng Trần Đại Quang từ trần ngày 21-9-2018 để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với đồng chí, đồng bào cả nước. Lãnh đạo nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia trên thế giới đã bày tỏ sự chia sẻ sâu sắc với tổn thất lớn lao này của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ Chủ tịch nước; Cuba tuyên bố thực hiện quốc tang 2 ngày; Thái Lan cho biết sẽ để cờ rủ 3 ngày… Người đứng đầu nhà nước của nhiều nước đã sớm gửi điện chia buồn đến Đảng, Nhà nước và gia đình Chủ tịch nước Trần Đại Quang, đồng thời khẳng định Chủ tịch nước đã có nhiều đóng góp cho hòa bình và phát triển của Việt Nam, khu vực và thế giới, đã góp phần thúc đẩy quan hệ tích cực của Việt Nam với các nước…

Dẫu biết sinh lão bệnh tử là lẽ thường của một con người nhưng vẫn thấy nhói lòng với sự ra đi có phần bất ngờ của Chủ tịch nước. Bởi liên tục những ngày trước đó, Chủ tịch vẫn có nhiều hoạt động thực tế, vẫn xuất hiện trước công chúng và truyền thông. Ngay ngày hôm trước, Chủ tịch còn gửi thư chúc Tết Trung thu đến trẻ em cả nước với những lời chan chứa yêu thương. Chủ tịch nước động viên: “Nhiều cháu đã vượt khó, vươn lên đoạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế, mang vinh quang về cho Tổ quốc. Mỗi việc làm tốt của các cháu là niềm vui của nhà trường, gia đình và xã hội, làm cho Đêm hội Trăng rằm thêm vui tươi, bổ ích”. Và cũng người không quên gửi gắm những kỳ vọng: “Bác mong các cháu tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, thực hiện thật tốt 5 điều Bác Hồ dạy, chăm ngoan, học giỏi hơn nữa, sau này tiếp bước cha anh xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp, phồn vinh”…

Thế nhưng, có một số kẻ “không tim óc” đã buông những lời bình phẩm thể hiện sự kém văn hóa, kém tính người và đầy ác ý với Chủ tịch nước Trần Đại Quang, với Đảng và Nhà nước ta. Trong khi Chủ tịch gần như làm việc đến ngày cuối cùng trước khi nhập viện thì có kẻ lại độc mồm cho rằng Đảng không để Chủ tịch được nghỉ ngơi, chữa bệnh; trong khi có thông tin chính thức khẳng định Chủ tịch từ trần vì bệnh, mặc dù đã được cứu chữa tận tình, cả trong và ngoài nước thì có kẻ ác tâm suy diễn, đồn đoán một cách vô căn cứ; trong khi dư luận trong và ngoài nước đều đánh giá cao những đóng góp của của Chủ tịch nước thì có kẻ hàm hồ quy chụp về cá nhân Chủ tịch bằng những thông tin sai lệch, không được kiểm chứng; trong khi cả nước chuẩn bị quốc tang thì có kẻ độc địa nói rằng Chủ tịch ra đi vào lúc này là “cướp đi niềm vui trung thu của các cháu”; trong lúc Đảng và Nhà nước có sự chuẩn bị để tiễn đưa Chủ tịch về cõi vĩnh hằng thì một số kẻ tự cho mình là “thạo tin”, là “am hiểu” đã bàn luận, bình phẩm đủ thứ, trong đó có vấn đề nhân sự… Rất nhiều người bức xúc vì trong khi cả nước đau buồn trước sự ra đi của Chủ tịch thì có một số kẻ đăng công khai những status thể hiện sự hả hê hoặc suy đoán ngu xuẩn rằng người dân “vỗ tay ăn mừng” hoặc có những lời mỉa mai về một cái đại tang của dân tộc…

“Nghĩa tử là nghĩa tận”, đó là đúc kết của cha ông khi có một người nằm xuống. Truyền thống nhân bản của dân tộc ta luôn kiêng những nhận xét không hay với người vừa ra đi, dù người đó có địa vị thế nào. Thế nhưng, có một số kẻ vì thành kiến, cay cú với sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam, với vai trò lãnh đạo ngày càng đạt nhiều thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam, với sự phát triển không ngừng của đất nước Việt Nam, đã không tiếc những cay độc đối với người đứng đầu Nhà nước Việt Nam. Đó thực sự là những kẻ không có tim, vì đã không những vô cảm mà còn có những lời thất đức trước sự mất mát của một đất nước, một dân tộc, một gia đình, trước sự ra đi của một con người. Đó thực sự là những kẻ không có óc vì đã không biết nghĩ, không biết suy xét trước tầm vóc, đóng góp của một con người, một nhà lãnh đạo, trước thái độ của nhân dân, không chỉ trên mạng xã hội mà còn trong đời thực. Đã không tim óc thì mọi lời nhận xét, bình phẩm thực chất không có giá trị nữa!

Đáng tiếc là trong số này, bên cạnh những kẻ thường xuyên chống phá Đảng và Nhà nước, những phần tử phản động ở nước ngoài, có không ít kẻ là người đang sống trong nước, đang làm việc trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, được hưởng những thành tựu chung của đất nước nhưng nhanh chóng tỏ ra vô ơn và thể hiện mình là người “không tim óc” triệt để nhất.

Một nhà văn, đồng thời đang là lãnh đạo một cơ quan báo chí phải bức xúc viết trên facebook của anh: “Lâu lâu một người tử tế qua đời, thương tiếc đến nghẹn lòng. Sao lũ ác, đểu giả, ngu xuẩn vẫn sống hoài vậy trời? Quả báo đâu?”. Trong khi đó, chỉ một chi tiết, quốc tang được thực hiện sau Trung thu, đủ thấy sự nhân bản, nhân văn của người nằm xuống, của Đảng và Nhà nước ta, thật khiến triệu triệu người nghẹn lòng!

TRÚC GIANG

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

Trích đăng từ bài viết “Những người không tim óc…” - Trang Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban Tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

 

 

 

 

Nhằm triển khai nghiêm túc, đầy đủ, minh bạch, kịp thời Thông báo số 1483/TB-TTCP ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Thanh tra Chính phủ về kết quả kiểm tra một số nội dung chủ yếu liên quan đến việc khiếu nại của công dân về Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Ủy ban nhân dân thành phố thông tin về việc tổ chức thực hiện Thông báo số 1483/TB-VPCP như sau:

1. Khái quát về tình hình triển khai đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm

Khu đô thị mới Thủ Thiêm được xác định là công trình trọng điểm trong quy hoạch tổng thể của Thành phố Hồ Chí Minh những năm đầu thế kỷ XXI với mục tiêu xây dựng một trung tâm đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm tài chính - dịch vụ - thương mại - cao cấp của thành phố và khu vực theo cơ chế tổ chức quản lý mới nhằm tạo được bước đột phá đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng dịch vụ, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện thành phố trong giai đoạn mới.

Quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 367/TTg ngày 04 tháng 6 năm 1996, trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân thành phố đã giao nhiệm vụ Kiến trúc sư trưởng thành phố phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2.000 Khu đô thị mới Thủ Thiêm tại Quyết định số 13585/KTST-QH ngày 16 tháng 9 năm 1998 và tổ chức công bố công khai quy hoạch theo quy định. Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 1997/QĐ-UB ngày 10 tháng 5 năm 2002 thu hồi 621,4 ha đất nằm trong khu vực quy hoạch để xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Đồng thời, qua quá trình thực hiện, để phù hợp với tình hình thực tế và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố đã tiến hành điều chỉnh quy hoạch 1/5.000 và 1/2.000 Khu đô thị mới Thủ Thiêm theo quy định, cụ thể tại Quyết định số 6565/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2005, Quyết định số 6566/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2005, Quyết định số 3165/QĐ-UBND ngày 19 tháng 6 năm 2012.

Đến nay, thành phố đã chi bồi thường, hỗ trợ được 14.353/14.357 hồ sơ (đạt tỷ lệ 99,97%), diện tích đã thu hồi 715,97/719,92ha (đạt tỷ lệ 99,45%), với số tiền bồi thường, hỗ  trợ là 17.455 tỷ đồng; trong đó theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, một số khoản đã được thành phố vận dụng hỗ trợ thêm ngoài quy định theo hướng có lợi cho người dân khi nhà nước thu hồi đất. So sánh mức hỗ trợ, đền bù tại cùng thời điểm thì mức hỗ trợ, đền bù của Khu đô thị mới Thủ Thiêm có giá trị lớn hơn các dự án khác.

Về tình hình đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật: đã xây dựng hoàn thành toàn bộ hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư 38,4 ha Phường Bình Khánh phục vụ tái định cư; hoàn thành đường trục Bắc - Nam (nay là đường Nguyễn Cơ Thạch); đang triển khai xây dựng 04 tuyến đường chính (bao gồm: đường vòng cung, đường ven hồ trung tâm, đường ven sông Sài Gòn và đường châu thổ qua Khu Lâm viên sinh thái phía Nam, với tổng chiều dài khoảng 11,9 km); thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng Quảng trường trung tâm và Công viên bờ sông; triển khai xây dựng Cầu Thủ Thiêm 2; bổ sung công trình Nạo vét rạch, đào hồ trung tâm và các kênh mới... Ngoài ra, thành phố cũng đã giao cho các nhà đầu tư của các dự án có sử dụng đất tự bỏ vốn để đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch được duyệt.

Về tình hình đầu tư xây dựng hạ tầng xã hội và công trình công cộng trong Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm: Đã xây dựng các khối nhà chung cư thuộc Chương trình xây dựng 12.500 căn hộ phục vụ tái định cư (trên 09 lô đất; quy mô 6.200 căn hộ) và hệ thống hạ tầng kỹ thuật thuộc Khu dân cư 38,4 ha phường Bình Khánh, Quận 2; đã xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng Trường Tiểu học (diện tích 0,79 ha, quy mô 1.155 học sinh) và Trường Trung học cơ sở (diện tích 1,47 ha, quy mô 1.800 học sinh).

Để đạt được những kết quả như trên, trong những năm qua, thành phố đã và đang rất nỗ lực, cố gắng trong việc kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư; thực hiện bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất, quy hoạch, xây dựng các khu nhà ở, bố trí tái định cư, tập trung rà soát, giải quyết thấu đáo khiếu nại của người dân. Với sự tích cực, kiên trì của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp qua nhiều thời kỳ và đặc biệt là sự đồng thuận của đại đa số người dân bị ảnh hưởng trực tiếp, Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã từng bước được hình thành, góp phần xây dựng bộ mặt đô thị thành phố ngày càng khang trang.

2. Một số vi phạm theo Thông báo kết luận số 1483/TB-TTCP của Thanh tra Chính phủ

Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, thành phố đã có một số vi phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi một số hộ dân sinh sống trên địa bàn, nhất là liên quan đến ranh quy hoạch 4,3 ha tại Khu phố 1, phường Bình An, Quận 2, làm phát sinh khiếu nại gay gắt, kéo dài. Cụ thể như sau:

(1) Về ranh quy hoạch:

Qua kiểm tra thực tế cho thấy: các văn bản thẩm định của Ủy ban nhân dân thành phố, Bộ Xây dựng và Quyết định phê duyệt quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm của Thủ tướng Chính phủ nêu không đầy đủ, cụ thể về ranh giới, vị trí quy hoạch; đồng thời tại thời điểm lập quy hoạch có nhiều bản đồ khác nhau, như:

- Bản đồ quy hoạch tổng thể mặt bằng 1/5.000 Khu đô thị mới Thủ Thiêm ghi ngày 12/6/1995 có đóng dấu của các dơn vị liên quan cho thấy có một số lô đất, trong đó có phần diện tích khoảng 4,3 ha thuộc Khu phố 1, phường Bình An chỉ thể hiện ở bước nghiên cứu, đề xuất quy hoạch; trên bản đồ quy hoạch không thể hiện các chỉ tiêu kiến trúc, quy hoạch là không đúng so với quy định.

- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất (từ 5 đến 10 năm) với tỷ lệ 1/5.000 lập ngày 20/11/1995 có đóng dấu của các đơn vị liên quan không xác định một phần Khu phố 1, phường Bình An thuộc phạm vi lập quy hoạch.

Thành phố thống nhất nhận định của Thanh tra Chính phủ về việc Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/2.000 tại Quyết định số 13585/KTST-QH ngày 16 tháng 9 năm 1998, trong đó điều chỉnh diện tích và ranh giới không đúng thẩm quyền, tăng 4,3 ha thuộc Khu phố 1, phường Bình An, Quận 2 không đúng quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

(2) Về thu hồi đất:

Từ việc xác định ranh không đúng, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 1997/QĐ-UB ngày 10 tháng 5 năm 2002 thu hồi đất đối với phần diện tích 4,3 ha thuộc Khu phố 1, phường Bình An để thực hiện một số dự án trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm (phần lõi với diện tích 770 ha) chưa đủ cơ sở pháp lý, không đúng với quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

(3) Về khu tái định cư 160 ha:

Sau khi có Quyết định số 367/TTg ngày 04 tháng 6 năm 1996 và văn bản số 190/CP-NN ngày 22 tháng 02 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố chưa chỉ đạo các cơ quan liên quan của thành phố lập, thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung 1/5.000 đối với khu tái định cư; tổng diện tích đất đã được Ủy ban nhân dân thành phố quy hoạch, bố trí tái định cư phục vụ cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm đúng theo quy hoạch Thủ tướng phê duyệt là 46,1 ha, còn thiếu 113,9 ha chưa được quy hoạch, bố trí tái định cư nhưng không báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trong phạm vi 5 phường ngoài ranh Khu đô thị mới Thủ Thiêm (Bình An, Bình Khánh, An Khánh, An Lợi Đông và Thủ Thiêm) để xây dựng Khu tái định cư theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 190/CP-NN ngày 22 tháng 02 năm 2002, Ủy ban nhân dân thành phố đã giao đất cho 51 dự án để đầu tư xây dựng nhà ở, văn phòng, khu vui chơi giải trí, công trình công cộng… với tổng diện tích khoảng 144,6 ha. Ủy ban nhân dân thành phố đã không thực hiện lập, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/2.000 trước khi giao đất cho các dự án, nhưng phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 để các dự án đầu tư xây dựng. Thay vì tạm thời dừng giao đất cho các dự án không cấp thiết, quản lý chặt chẽ sự biến động của quỹ đất trong khu vực đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận chủ trương, tạm giao cho 06 dự án với diện tích 27,7 ha và quyết định giao đất chính thức cho 45 dự án với tổng diện tích khoảng 116,9 ha. Bên cạnh đó, trong một số dự án thành phố giao đất cho doanh nghiệp không đúng giấy phép kinh doanh, không đúng thẩm quyền, không có quy hoạch chi tiết 1/2.000 được duyệt, giao đất công không thông qua bán đấu giá…; các dự án đều có vi phạm về quy hoạch và giấy phép xây dựng, tính toán tiền sử dụng đất không đúng quy định…

Hệ quả là không đủ đất để bố trí tái định cư theo quy hoạch, dẫn đến, làm phá vỡ quy hoạch được phê duyệt, việc đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm bị đình trệ do người dân khiếu nại kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.

Với các vi phạm trên, Ủy ban nhân dân thành phố xin nhận trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vì đã thực hiện không đúng quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chân thành xin lỗi nhân dân thành phố, nhất là các hộ dân bị ảnh hưởng tại khu vực khoảng 4,3 ha ngoài ranh quy hoạch thuộc Khu phố 1, phường Bình An, Quận 2 đã chịu nhiều thiệt thòi, tổn thất, vất vả trong cuộc sống nhiều năm qua.

3. Quan điểm xử lý của thành phố

Trên tinh thần cầu thị và nghiêm túc nhận trách nhiệm đối với những khuyết điểm, vi phạm trong quá trình đầu tư, xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, lãnh đạo thành phố xác định quan điểm giải quyết như sau:

(1) Quán triệt, chấp hành, triển khai thực hiện nghiêm các kết luận của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ liên quan đến việc giải quyết khiếu nại của công dân về Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Quận 2.

(2) Việc thực hiện các kết luận của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ phải đảm bảo đúng chính sách pháp luật, yên dân; đền bù thiệt hại, đảm bảo quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và của tổ chức, cá nhân sử dụng đất.

(3) Kiểm tra làm rõ các tình tiết, có xem xét quá trình và hoàn cảnh lịch sử từng vụ việc; tổ chức đối thoại công khai, lắng nghe ý kiến của người dân, trao đổi thống nhất tạo sự đồng thuận về hướng giải quyết, bảo đảm không để người dân bị thiệt thòi do bất cập về chính sách và sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai; xác định rõ thời gian, lộ trình giải quyết dứt điểm từng vụ việc. Trường hợp người dân khiếu nại gặp khó khăn, xem xét vận dụng chính sách xã hội để có biện pháp hỗ trợ phù hợp.

 (4) Tất cả các hoạt động đều vì mục tiêu xây dựng, phát triển thành phố, vì cuộc sống tốt đẹp của người dân. Đối với những nội dung được Chính phủ, Thanh tra Chính phủ kết luận, chính quyền thành phố đã triển khai đúng thì phải được khẳng định, kiên trì giải thích, vận động thuyết phục các tổ chức, cá nhân tiếp tục thực hiện; các vụ việc được kết luận là chính quyền thành phố làm sai quy định của pháp luật thì cương quyết sửa chữa, khắc phục các thiếu sót, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và phù hợp tình hình thực tiễn thành phố.

(5) Tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức đã có các vi phạm theo kết luận của Thanh tra Chính phủ.

4. Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện Thông báo số 1483/TB-TTCP của Thanh tra Chính phủ

Song song với quá trình Thanh tra Chính phủ giải quyết các vụ việc khiếu nại của công dân, lãnh đạo thành phố cũng chủ động thành lập Ban chỉ đạo xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người (trong đó có Khu đô thị mới Thủ Thiêm); thành lập Tổ công tác giải quyết trường hợp kiến nghị, khiếu nại liên quan công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư thực hiện quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố làm Tổ trưởng; thành lập Tổ công tác liên ngành rà soát các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 2 làm Tổ trưởng.

Ban chỉ đạo, Tổ công tác đã tiến hành công việc thường xuyên và xây dựng được các phương án khắc phục các khuyết điểm, vi phạm theo kết quả kiểm tra của Thanh tra Chính phủ báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy. Ủy ban nhân dân thành phố cũng xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 1483/TB-TTCP của Thanh tra Chính phủ, gồm một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

(1) Tổ chức họp báo

- Nội dung: công khai tiếp thu kết quả kiểm tra của Thanh tra Chính phủ; nhận thiếu sót của Ủy ban nhân dân các thời kỳ trong quá trình chỉ đạo thực hiện quy hoạch xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm; công bố kế hoạch triển khai các giải pháp thực hiện của chính quyền thành phố trong thời gian tới.

- Thời gian thực hiện ngày 21 tháng 9 năm 2018.

(2) Tổ chức gặp gỡ các hộ dân

- Đối tượng: đại diện các hộ dân khiếu nại liên quan đến phạm vi ranh quy hoạch và một số trường hợp đã chấp thuận chủ trương di dời nhưng còn khiếu nại về chính sách hỗ trợ.

- Nội dung: công khai tiếp thu kết quả kiểm tra của Thanh tra Chính phủ; nhận thiếu sót của Ủy ban nhân dân thành phố và các cơ quan chức năng các thời kỳ trong quá trình chỉ đạo thực hiện quy hoạch xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm; công bố kế hoạch triển khai các giải pháp thực hiện của chính quyền Thành phố trong thời gian tới; lấy ý kiến của đại diện các hộ dân về chính sách (bổ sung) bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư.

- Thời gian thực hiện: trước ngày 30 tháng 10 năm 2018.

(3) Về quy hoạch và thu hồi đất thực hiện Khu đô thị mới Thủ Thiêm:

- Căn cứ vào kết luận của Chính phủ, rà soát, hoàn thiện các thủ tục pháp lý để tiếp tục thực hiện quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm, trong đó có khoảng 4,3 ha Khu phố 1, phường Bình An, Quận 2

- Thời gian hoàn tất: trước 15 tháng 10 năm 2018.

(4) Xây dựng chính sách bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư đối với các hộ dân trong phần đất diện tích khoảng 4,3 ha Khu phố 1, phường Bình An nằm ngoài ranh quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Quận 2 theo kết luận của Thanh tra Chính phủ.

- Thời gian thực hiện: trước ngày 30 tháng 11 năm 2018.

Đồng thời rà soát các trường hợp đang có khiếu nại còn lại, xây dựng và phê duyệt chính sách bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư phù hợp.

- Thời gian hoàn tất: trước 15 tháng 10 năm 2018.

(5) Tổ chức kiểm tra, rà soát các dự án trong khu tái định cư trong quy hoạch theo kết luận của Thanh tra Chính phủ.

- Thời gian thực hiện: trước 01 tháng 11 năm 2018.

(6) Tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân có liên quan tại thời điểm phát sinh vụ việc theo phân cấp quản lý cán bộ.

- Thời gian thực hiện: trước 30 tháng 11 năm 2018.

Về biện pháp thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố sẽ phối hợp với Thanh tra Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương có liên quan, trao đổi chặt chẽ trong quá trình thực hiện để thống nhất về cách thực hiện đảm bảo tính pháp lý, phù hợp tình hình thực tiễn của thành phố, xử lý kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh. Trong quá trình thực hiện, Thủ trưởng các đơn vị và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 2 chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các mặt công tác liên quan theo chức trách, nhiệm vụ, đảm bảo đúng tiến độ, đạt yêu cầu đặt ra. Trong quá trình thực hiện Kết luận của Thanh tra Chính phủ, đối với các vấn đề mới, chưa có tiền lệ hay đụng chạm đến quyền lợi cơ bản của người dân, Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy để có chủ trương thống nhất về các giải pháp cần triển khai.

          Khu đô thị mới Thủ Thiêm từ lúc lập quy hoạch đến nay thực hiện hơn 20 năm, đã đạt nhiều kết quả tích cực, từng bước hình thành một đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm tài chính - dịch vụ - thương mại - cao cấp. Tuy nhiên, quá trình triển khai đã có một số vi phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, gây bức xúc đối với một số hộ dân. Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và quan điểm mỗi cán bộ, công chức và người dân phải tuân thủ pháp luật, chính quyền thành phố sẽ tập trung, khẩn trương thực hiện Thông báo của Thanh tra Chính phủ, nghiêm túc nhận thiếu sót, trách nhiệm trong quá trình quản lý, điều hành của lãnh đạo và các cơ quan chức năng các thời kỳ; triển khai ngay các chính sách phù hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư; kiểm điểm, xác định trách nhiệm, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền nhằm yên dân, tạo điều kiện tiếp tục thực hiện đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm thành một khu đô thị hiện đại với quy mô tiêu chuẩn tầm cỡ khu vực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân thành phố.

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

Trích đăng từ bài viết “Thành phố Hồ Chí Minh nghiêm túc thực hiện kết quả kiểm tra một số nội dung chủ yếu của Thanh tra Chính phủ về khiếu nại Đô thị mới Thủ Thiêm” - Trang Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban Tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

 

 

 
 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

 

Thông tin về Chủ tịch nước (CTN) Trần Đại Quang qua đời không có gì là “đột ngột”. Bởi, theo đồng chí Nguyễn Quốc Triệu, Trưởng ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương chia sẻ, Chủ tịch nước Trần Đại Quang được phát hiện bị bệnh từ tháng 7 năm 2017. GS-TS Phạm Gia Khải, nguyên chủ tịch Hội đồng chuyên môn - cố vấn Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, cho biết Chủ tịch nước Trần Đại Quang được phát hiện mắc bệnh lý máu ác tính cách đây một thời gian và đã từng đi nước ngoài điều trị. Tuy nhiên, do thế giới chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên chỉ có thể điều trị duy trì để lui bệnh một thời gian. Từ đó đến khi từ trần, ông đã trải qua 6 lần điều trị tại Nhật Bản. Ai thường xuyên theo dõi thời sự đều có thể cảm nhận được sự thay đổi hàng ngày về sức khỏe của Chủ tịch nước, bởi mới đây sau chuyến thăm một số nước Châu Phi trở về chẳng cần phải tinh ý người ta vẫn nhìn thấy “thần sắc” của Ông đã kém đi rất nhiều trên màn hình Ti Vi…. và sự ra đi của Ông như một điềm “gở” báo trước.   

Nói cho cùng, “Sinh - Lão - Bệnh - Tử”, sống chết là quy luật của đất trời. Do đó, sự ra đi của Chủ tịch nước ở tuổi 62 dù có bất ngờ, bởi ông còn quá trẻ. Tuy nhiên, không bất ngờ ở chỗ ông mang trọng bệnh, đó là quy luật của tự nhiên, không ai có thể tránh khỏi được vòng luân hồi. Vì thế, có thể hiểu việc Chủ tịch nước ra đi rất đời thường cũng là chuyện bình thường của tạo hóa.

Hiện nay, sự qua đời của Chủ tịch nước Trần Đại Quang lúc này đang là đề tài rất “hot” trên mạng xã hội đối với người dân để tỏ lòng tiếc thương vị chủ tịch nước đáng kính của mình, thì lại có những kẻ ba que chuyên có thói “Bới bèo ra bọ, thích “Vạch lá tìm sâu” kiếm cớ để “chọc ngoáy” nhằm bôi nhọ chế độ, nói xấu chính quyền đó là điều dễ hiểu và biết trước… Chúng đang lợi dụng cái chết của Chủ tịch nước để thể hiện dã tâm thâm độc, đầy ác ý, một âm mưu chính trị đê hèn khi tung tin thất thiệt lúc này để gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự “hoài nghi” trong dư luận xã hội về nguyên nhân cái chết của Chủ tịch nước là do “đầu độc”, sự ra đi của ông là do “đấu đá” nội bộ, tranh giành quyền lực… trong chính quyền, đó là cái chết oan uổng của một chính trị gia Cộng sản và rỏ nước mắt “cá Sấu”… tiếc thương nhằm kích động người dân…” Nghĩa tử là nghĩa tận, mang đậm nét nhân văn, truyền thống văn hóa hóa Việt, đó là đạo lý tốt đẹp muôn đời nay của dân tộc ta. Thế nhưng, lại có những kẻ “táng tận lương tâm” người Việt chúng lại dùng từ ngữ đê tiện nhất… để nhục mạ với người đã chết, người thường đã không thể chấp nhận được, đây lại là Nguyên thủ Quốc gia, Chủ Tịch nước ... Một hành vi khốn nạn đến tột cùng của những kẻ bất lương, cần phải lên án mạnh mẽ.

Không những thế, cứ như thông lệ “Cầm đèn chạy trước Ô tô” Chúng lại le te “ăn ốc nói mò”, dự kiến nâng “Ông nọ, nhấc Bà kia” vào cái chức Chủ tịch nước tới đây… nhằm chia rẽ nội bộ Đảng và chính quyền, công an với quân đội và chia rẽ lòng dân với Đảng. Vì thế, để thể hiện lòng tiếc thương trước sự ra đi của Chủ Tịch nước Trần Đại Quang, người dân Việt chân chính, hãy, biến đau thương thành hành động, sức mạnh, đề cao cảnh giác trước âm mưu đê tiện của các thế lực thù địch, những kẻ chống phá đất nước kiên quyết làm thất bại âm mưu của chúng.

Hãy, để cho hương hồn Chủ Tịch nước Trần Đại Quang người con ưu tú của dân tộc, vị Đại Tướng đáng kính của Nhân dân, được yên giấc ngàn thu ở cõi vĩnh hằng cho linh hồn ông được siêu thoát… Đừng, vì mục đích chính trị đê hèn, để cố “Bôi vẽ, bịa đặt” cái chết của CTN đó là tội lỗi không thể tha thứ… Đừng, tự biến mình thành kẻ vô lương tâm “ăn mày trên xác chết”, hành vi như vậy chẳng khác gì loài cầm thú, tội đồ của dân tộc.

Nguyễn Kim Khanh

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

Trích đăng từ bài viết “Cảnh giác với âm mưu lợi dụng sự ra đi của Chủ tịch nước để chống phá” - Trang Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban Tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM.

 

 

 

 

 

 

Hiệp hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế chọn “Ngày thứ 7, tuần thứ 2 của tháng 9 hàng năm” tổ chức hoạt động kỷ niệm “Ngày Sơ cấp cứu thế giới”.

Sáng kiến về “Ngày sơ cấp cứu thế giới” được phát động lần đầu tiên vào năm 2000 với sự tham gia của 16 Hội Chữ thập đỏ quốc gia Châu Âu. Đến nay các thành viên trong Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế tham gia hưởng ứng với nhiều hoạt động đạt hiệu quả cao. Hoạt động kỷ niệm “Ngày Sơ cấp cứu thế giới” với mục đích, ý nghĩa:

  • Nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sơ cấp cứu ban đầu trong việc cứu sống nạn nhân trong những tình huống tai nạn thương tích xảy ra.
  • Tôn vinh giá trị nhân đạo của hàng triệu tình nguyện viên Chữ thập đỏ trên toàn cầu đang nỗ lực hoạt động sơ cấp cứu ban đầu trợ giúp những đối tượng dễ bị tổn thương vì niềm vui, niềm hạnh phúc của cộng đồng.
  • Khuyên khích người dân ở mọi lứa tuổi học sơ cấp cứu để có kỹ năng và sự tự tin giải quyết các tình huống khẩn cấp khi chứng kiến hoặc chính bản thân mình bị tai nạn, thương tích.

         Sơ cấp cứu là gì ?

Sơ cấp cứu là hành động can thiệp, trợ giúp và chăm sóc ban đầu đối với người bị nạn do thương tích hoặc do bệnh lý cấp tính ngay tại hiện trường trước khi có sự hỗ trợ của nhân viên y tế nhằm cứu sống nạn nhân, ngăn không cho tình trạng sức khỏe của nạn nhân xấu đi, hạn chế biến chứng, di chứng của tổn thương.

Để thực hiện được nhiệm vụ quan trọng này, người tham gia sơ cấp cứu cần phải có những kiến thức và kỹ năng nhất định về sơ cấp cứu, bảo đảm hoạt động sơ cấp cứu đạt hiệu quả, an toàn cho người bị nạn, an toàn cho chính người sơ cấp cứu và những người khác có mặt tại hiện trường trong khả năng có thể.

Sơ cấp cứu nhằm mục đích:

  • Bảo toàn tính mạng cho nạn nhân hoặc bệnh nhân.
  • Hạn chế biến chứng, di chứng của tổn thương hoặc tình trạng nặng thêm của bệnh nhân.
  • Trợ giúp nạn nhân phục hồi sức khỏe.

          Ai làm nhiệm vụ SCC ?

Ngoài cán bộ y tế, những ai có hiểu biết và kỹ năng về SCC đều có thể trợ giúp cho người bị nạn trong các tình huống khẩn cấp. Trong khi chờ đợi sự có mặt của y tế, hội viên, tình nguyện viên Chữ thập đỏ được huấn luyện sơ cấp cứu dù làm việc hay sinh hoạt bất cứ ở đâu cũng có nhiệm vụ làm công tác SCC, đó là hoạt động nhân đạo cứu người của Hội Chữ thập đỏ.

     Điều 9 Chương II Luật Hoạt động Chữ thập đỏ:

Hoạt động Chữ thập đỏ về sơ cấp cứu ban đầu là hoạt động sơ cấp cứu đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn giao thông và các tai nạn, thảm họa khác, bao gồm:

1. Tổ chức sơ cấp cứu tại chỗ, kịp thời đưa nạn nhân đến cơ sở y tế và báo tin cho gia đình, cơ quan, tổ chức nơi nạn nhân làm việc hoặc Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi nạn nhân cư trú;

2. Tổ chức lực lượng, tiến hành đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng hội viên, tình nguyện viên có kỹ năng, phương pháp sơ cấp cứu;

3. Tổ chức điểm, trạm sơ cấp cứu ở những nơi thường xuyên xảy ra tai nạn, cung cấp dụng cụ sơ cấp cứu.

Cá nhân, đơn vị có nhu cầu trang bị kiến thức, kỹ năng sơ cấp cứu để tự sơ cứu cho bản thân và sơ cứu giúp cho mọi người, hãy liên hệ:

  1. Hội Chữ thập đỏ quận, huyện.
  2. Trung tâm huấn luyện sơ cấp cứu và Phòng chống thảm họa Thành phố trực thuộc Hội Chữ thập đỏ thành phố Hồ Chí Minh thành lập theo quyết định số 648/QĐ-UBND ngày 14/2/2007 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Trụ sở tại số 201 đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Nguyễn Cư Trinh Quận 1. Điện thoại: 38 325 729; Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
  • Đội ngũ huấn luyện viên có nhiều năm kinh nghiệm huấn luyện các kỹ năng, kỹ thuật sơ cấp cứu ban đầu cho nhân dân, tổ chức trong nước, nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh.
  • Kết hợp các hoạt động cứu trợ khẩn cấp, cứu hộ, cứu nạn, sơ cấp cứu, phòng tránh tai nạn thương tích với các loại hình thiên tai, các loại hình thảm họa do con người gây ra.

     Với thông điệp “Một giọt máu cho đi- Một cuộc đời ở lại” Vào lúc 6h sáng ngày 09 tháng 9 năm 2018 tại Tổng Công ty may Việt Tiến – Số: 7 đường Lê Minh Xuân- phường 7, quận Tân Bình. Hội Chữ thập đỏ phường 7 phối hợp cùng Công đoàn Tổng công ty may Việt Tiến tổ chức ngày Hội hiến máu tình nguyện năm 2018.

1-1
1-2
1-3
1-4
1-5

     Trong buổi sáng Ban tổ chức đã vận động trên 130 cán bộ, nhân viên, công nhân tham gia hiến máu tình nguyện, kết quả đạt được là 110 ca, trong đó 23 ca (250ml); 78 ca (350ml); 09 ca (450ml) buổi hiến máu tình nguyện diễn ra sôi nổi, hào hứng vì mọi người nhận thức được sự chia sẽ đến những bệnh nhân nghèo hoạn nạn đang cần truyền máu

                                                                   CTV - Nguyễn Hồng Đức

Trang Cờ Đỏ Tp. Hồ Chí Minh (ngày 9/9/2018)

Bản thân mỗi người cần tỉnh táo trước các thông tin không có nguồn chính thức, các nhận xét cá nhân, không vội tin, không vội chia sẻ, tán phát nếu không chắc chắn rằng điều đó là chính xác và cần thiết. Trong một số trường hợp, chúng ta cần mạnh dạn “nói lại”, phản bác các ý kiến chưa đúng và không nên tung hô những kẻ đó như là người phản biện, càng không phải là người đang tham gia phản biện xã hội!

Không phải hình thức bày tỏ ý kiến nào cũng là phản biện!

Trên thực tế, có nhiều hình thái thể hiện quan điểm, chính kiến, ý kiến của một tổ chức, cá nhân đối với các vấn đề của xã hội, của đất nước. Mỗi hình thái mang sắc thái tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm, thậm chí cả ý đồ khác nhau. Và không phải hình thức bày tỏ ý kiến nào cũng là phản biện hay phản biện xã hội!


Phản biện là đặt lại, xét lại một sự việc, một vấn đề trên cơ sở lập luận, phân tích một cách khách quan khoa học có sức thuyết phục, nhằm phát hiện hoặc đưa các chính kiến trở về đúng giá trị của nó. “Phản biện xã hội là sự phản ánh chính kiến của xã hội đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật do hệ thống lãnh đạo, quản lý đề ra, thể hiện qua những nhận xét, đánh giá, phân tích có căn cứ và có sức thuyết phục, được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các chủ thể phản biện; có chức năng chuyển tải nhu cầu, nguyện vọng của xã hội đến hệ thống lãnh đạo và quản lý; có tác dụng thúc đẩy nền dân chủ xã hội và củng cố thể chế xã hội[1].

 Ngoài phản biện, còn có một số hình thái bày tỏ ý kiến khác.

Trưng cầu dân ý

Trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu toàn dân là một cuộc bỏ phiếu trực tiếp, trong đó toàn bộ các cử tri được yêu cầu chấp nhận hay phủ quyết một đề xuất đặc biệt. Trên thực tế, trưng cầu dân ý là việc nhà nước hỏi để người dân trả lời, đồng ý hay không đồng ý đối với phương án đưa ra mà không cần tranh luận và cũng không thể tranh luận. Hình thức này chỉ thật sự có tác dụng khi người dân có đầy đủ thông tin cần thiết về vấn đề được hỏi ý kiến; nếu người dân không ý thức được đầy đủ sự đúng - sai của phương án đã lựa chọn, không lường được những hậu quả bởi quyết định lựa chọn của bản thân mình hoặc cuộc trưng cầu dân ý thực chất là mưu đồ của ai đó, hoặc các câu hỏi gợi ý không thực sự minh bạch thì kết quả có thể không phản ánh được ý chí, nguyện vọng thực sự của người dân [2].

Còn phản biện xã hội là việc để cho nhân dân nhận xét, đánh giá, góp ý với người lãnh đạo và quản lý nhằm tìm ra phương án tốt nhất có lợi cho nhân dân; trong nhận xét, đánh giá có thể có phê bình, chê trách… Phản biện xã hội phải thông qua tranh luận, có khi tranh luận dài lâu, trên tinh thần khách quan, khoa học, tôn trọng lẫn nhau, mới đi đến quyết định đồng ý hay không đồng ý.

Phản bác

Phản bác là bác bỏ một phần hoặc hoàn toàn đối với một vấn đề. Phản bác trong nhiều trường hợp vẫn có tính xây dựng nhưng tính xây dựng đó thể hiện chưa đầy đủ, thường mới dừng ở góc nhìn là “điều đó chưa tốt nhưng chưa nêu lên được giải pháp tốt hơn”.

Phản biện có nội hàm rộng hơn so với phản bác. Trong quá trình phản biện có thể đi đến phản bác, nhưng phản biện không chỉ có phản bác mà còn có bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh và khẳng định cái đúng, cái hay, cái ưu điểm trong những vấn đề được phản biện mà tác giả của nó nhiều khi chưa tự thấy rõ.

Phê phán, công kích

Có rất nhiều người lầm tưởng rằng phê phán, công kích nhắm vào ai đó hoặc vào chủ trương, chính sách nào đó là phản biện; hoặc phê phán các vấn đề mang tính xã hội thì là phản biện xã hội. Kỳ thật, phê phán chỉ là không hài lòng, mỉa mai, bức xúc, chê bai, chỉ trích thậm chí chửi rủa ai đó chứ không đề ra được một giải pháp nào tích cực hơn, có tính xây dựng hơn.

Trong phản biện có thể có tính phê phán nhưng thường không có sự công kích mà trên cơ sở phê phán sẽ gợi mở những giải pháp khác mà người phản biện cho là tích cực hơn, hiệu quả hơn.

Phản kháng

Phản kháng là hoạt động chống đối hoặc có tính chống đối nhằm phản đối, đả kích, gạt bỏ phương án xã hội được đưa ra, do có sự đối lập về mục tiêu, lợi ích hoặc bản chất xã hội. Phản kháng không có tính xây dựng nhưng cũng là một biểu hiện cần được quan tâm, xem xét thấu đáo trong quá trình ban hành các kế hoạch, phương án mang tính xã hội. Bởi trong một số trường hợp, khi chính quyền để mất lòng tin với nhân dân thì dù họ đưa ra chủ trương đúng, tích cực nhưng cũng không thuyết phục được người dân nên họ vẫn cứ phản kháng.

Phản biện và phản biện xã hội không bao giờ là sự phản kháng, nếu mang danh nghĩa phản biện nhưng đã mang tính phản kháng thì đó không phải là phản biện; phản biện mà luôn vì mục đích lựa chọn phương án tốt nhất. “Phản biện xã hội và phản kháng xã hội tuy khác nhau về bản chất, nhưng đôi khi lại có quan hệ với nhau. Phản kháng xã hội có thể xảy ra nếu không làm tốt phản biện xã hội. Phản biện xã hội là một giải pháp để phát hiện mâu thuẫn và hóa giải mâu thuẫn, tạo nên sự đồng thuận xã hội, phòng ngừa nguy cơ xảy ra phản kháng xã hội” [3].

*

Xét về động cơ, mục tiêu, người phản biện và người bị phản biện luôn có cùng một đích đến và ở cùng một nền tảng (nền tảng quan điểm, tri thức, nhận thức…) và chỉ khác nhau về phương thức, cách thức. Trong phản biện, gần như không thể có trường hợp tranh luận mà đi đến mục tiêu khác nhau, đối lập nhau (lưu ý, mục tiêu chứ không phải kết quả).

Trên thực tế, muốn phản biện xã hội thành công, người phản biện trước hết phải kiến thức vững chắc ở lĩnh vực mình muốn phản biện, đồng thời phải có quan điểm, lập trường rõ ràng, phản biện vì mục tiêu gì, phản biện với đối tượng cụ thể nào, vì lợi ích của ai… Nếu người phản biện không thể hiện được chính kiến phù hợp, không xác định rõ đối tượng phản biện, không vì lợi ích xã hội… thì phản biện không có kết quả hoặc sa vào phản bác, từ đó đi đến phản kháng.

Hiện nay, với sự phát triển của internet, mạng xã hội, nhiều người có thể bày tỏ ý kiến của mình về gần như mọi vấn đề trong xã hội. Trong số đó, có không ít người hầu như chỉ chê bai, chỉ trích, thậm chí bài bác các phát biểu, các chủ trương, chính sách, các hoạt động của các vị lãnh đạo, các cơ quan Đảng và Nhà nước mà không phân tích hay chứng minh được điều mình nói bằng các lý lẽ hợp lý, khoa học. Hoặc không ít trường hợp vì tiếp nhận thông tin sai lệch, không đầy đủ đã vội vàng phê phán, công kích cá nhân và tổ chức, khi có thông tin phản hồi chính xác và đầy đủ hơn thì cũng không “nói lại”, không thừa nhận sai lầm, không cải chính… Chẳng hạn, đã từng có người chụp màn hình trang thông tin điện tử của báo Hòa Bình phiên bản tiếng Mường rồi cho rằng “ai đó” đã sử dụng tiếng Việt một cách sai trái, rằng đó là “tiếng Việt của PGS. Bùi Hiền”, rằng tỉnh này đã “chạy theo Trung Quốc”…

Hay có người tự nhận mình là người chuyên phản biện, hoặc cũng được một số người coi họ là người tích cực phản biện, nhưng thực ra họ chỉ bày tỏ ý kiến một cách hồ đồ, vô trách nhiệm, không có tính xây dựng. Gần như vấn đề gì họ cũng tìm cách nói ngược lại, khi thì mỉa mai, khi thì công kích. Trong số này, có một số facebooker mang danh là nhà báo, luật sư, nhà văn hóa…, nhưng thái độ và các hành xử của họ hoàn toàn không thể hiện được các danh xưng mà họ trưng ra. Đó là biểu hiện mà dân gian hay gọi là “nói cho sướng miệng”, đôi lúc không phải không gây ra những hậu quả xấu, bởi lắm khi thông tin sai lệch, ý kiến sai lầm được một số người khác tiếp nhận, tán phát rồi tưởng rằng điều đó là đúng đắn.

Do đó, bản thân mỗi người cần tỉnh táo trước các thông tin không có nguồn chính thức, các nhận xét cá nhân, không vội tin, không vội chia sẻ, tán phát nếu không chắc chắn rằng điều đó là chính xác và cần thiết. Trong một số trường hợp, chúng ta cần mạnh dạn “nói lại”, phản bác các ý kiến chưa đúng và không nên tung hô những kẻ đó như là người phản biện, càng không phải là người đang tham gia phản biện xã hội!

TRÚC GIANG

Trích đăng từ bài viết “Không phải hình thức bày tỏ ý kiến nào cũng là phản biện!” - Trang Cờ đỏ thành phố Hồ Chí Minh (codotphcm.com) – Ban Tuyên giáo Thành ủy Tp. HCM


[1] PGS.TS. Trần Hậu, Phản biện xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12-2014.

[2] Ngày 23-6-2016, Vương quốc Anh (UK) tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về việc có rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) hay không. Đối với những người thuộc phe ủng hộ việc ở lại EU, khái niệm Bremain được nhắc đến song song với từ Brexit, tức là rời khỏi EU. Kết quả chính thức được công bố vào ngày 24-6, phe Brexit giành chiến thắng với khoảng cách 1 triệu phiếu (51,89 % số phiếu). Tuy nhiên, ngay sao khi có kết quả, nhiều người đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit tỏ ra hối hận với quyết định của mình và biểu tình đòi tiến hành trưng cầu dân ý lại.

[3] PGS.TS. Trần Hậu, tài liệu đã dẫn.

 

Duyệt đăng trên các Website của Quận

TRƯỞNG BAN

 

 

Đặng Tấn Tuyên

 

 

Đây là tổ chức từ thiện xã hội được toàn thế giới và nhà nước công nhận. Là đơn vị tiếp nhận các nguồn cứu trợ, tại trợ và là nơi hỗ trợ, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo trong xã hội không phân biệt địa lý, tôn giáo và dân tộc.

Khi có nhu cầu cần liên hệ vui lòng liên hệ trực tiếp hoặc gọi điện thoại số: (08) 39491383

 

Thành viên Ban biên tập

Tổng biên tập chịu trách nhiệm xuất bản:
Đỗ Văn Ánh - PCT Hội CTĐ Quận
Điện thoại: 0909 349 533

Tổng hợp & thư ký:
1/ Vũ Thị Hồng Gấm
2/ Nguyễn Thị Kiều Oanh

Kỹ thuật và bảo trì:
1/ Nguyễn Đức Cường
(0168 992 3979)